1. Làm giàu bản sắc văn hóa cho lễ hội ở Việt Nam = Enriching cultural identity for festivals in Vietnam/ Bùi Thị Minh Phương

Tóm tắt: Ở Việt Nam, trong 20 năm trở lại đây, các lễ hội đang phát triển mạnh mẽ và có đóng góp quan trọng trong đời sống tinh thần của xã hội, đáp ứng nhu cầu tâm linh của một bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân. Nhìn một cách tổng thể, để làm giàu bản sắc văn hóa nói chung và bản sắc văn hóa cho lễ hội nói riêng, cần phục dựng những yếu tố vốn đã mất đi trong lịch sử, sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới, và học hỏi, tiếp thu những giá trị văn hóa từ bên ngoài. Bài viết phân tích ba cách thức theo đường hướng trên nhằm làm giàu bản sắc văn hóa cho lễ hội ở Việt Nam, để các lễ hội thực sự trở thành một nét văn hóa đặc sắc của người người Việt.

Nguồn trích: Tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội/ 2017, Số 12, Tr.15-19

Ngày Thương binh - Liệt sỹ 27/7 hàng năm là ngày lễ kỷ niệm quan trọng, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, đây là dịp toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kính cẩn tưởng nhớ, tri ân các bậc cách mạng tiền bối, anh hùng liệt sỹ, những người con ưu tú của dân tộc đã dũng cảm chiến đấu, anh dũng hy sinh; biết ơn các thương binh đã cống hiến một phần xương máu của mình trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế, tô thắm những trang sử vẻ vang của dân tộc vì độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

1. Đặc điểm truyền thống của chính sách đối ngoại Việt Nam/ Nguyễn Thị Hinh

Tóm tắt: Chính sách đối ngoại Viêt Nam cũng luôn thể hiện quan điểm "dĩ bất biến, ứng vạn biến". Phương châm hành động của Đảng về đối ngoại trong thời kỳ đổi mới được thực hiện nhất quán, kiên định về chiến lược, cơ động linh hoạt về sắc lược. Trong thời kỳ đổi mới, nguyên tắc "bất biến" là lợi ích quốc gia, dân tộc với nội hàm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, sức mạnh và vị thế đất nước; là mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương/ 2020, Số 562, Tr.97-98

2. Quan hệ đối tác chiến lược trong chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới/ TS. Trần Thọ Quang

Tóm tắt: Quan hệ đối tác chiến lược trong chính sách đối ngoại của Việt Nam; quá trình xây dựng các quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam; đặc điểm quá trình triển khai quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Lịch sử Đảng/ 2014, Số 9, Tr.94-96

3. Chính sách đối ngoại của Việt Nam với các nước Đông Bắc Á giai đoạn 1986-2006/ Nguyễn Thị Phương

Tóm tắt: Bài viết trình bày sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam với các nước khu vực Đông Bắc Á, cụ thể là với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc trên hai lĩnh vực chủ yếu là: chính trị - đối ngoại và kinh tế.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học xã hội Tp Hồ Chí Minh/ 2015, Số 8, Tr.73-83

4. Chính sách đối ngoại của Việt Nam với Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI/ ThS. Cù Văn Trung

Tóm tắt: Quan hệ với Trung Quốc là một trong những trục quan hệ hết sức cơ bản về đối ngoại của Việt Nam trong mọi thời kỳ. Đây là mối quan hệ bang giao có lịch sử lâu đời, tác động nhiều chiều tới sự phát triển của cả hai dân tộc. Trong những năm qua, quan hệ hai nước bước vào một thời kỳ phát triển mới với tính chất mới, đặt ra những vấn đề đòi hỏi sự nhìn nhận khách quan và khoa học.

Nguồn trích: Tạp chí Mặt trận/ 2016, Số 6, Tr.49-52

5. Biển Đông và chính sách đối ngoại của Việt Nam/ Cù Chí Lợi

Tóm tắt: Bài viết giới thiệu tính chất nghiêm trọng của việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD981 tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và những thách thức đặt ra, ảnh hưởng của sự kiện giàn khoan HD981 tới đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Châu Mỹ ngày nay/ 2014, Số 6, Tr.3-11

6. Bàn về đổi mới quy trình ra quyết sách đối ngoại của Việt Nam/ Vũ Dương Huân

Tóm tắt: Hoạch định chiến lược đối ngoại là sự lựa chọn những mục tiêu cần đạt được và tạo dựng những phương cách để đạt được những mục tiêu đó. Theo dõi tiêu chí quyết sách có 3 mô hình hoạch định chính sách đối ngoại: tập thể quyết sách, cá nhân quyết sách và tổ chức quyết sách. Để nâng cao hiệu quả hoạt động chính sách đối ngoại, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới mô hình hoạch định chính sách đối ngoại trong nhận thức cũng như xây dựng và phát triển các cơ quan tư vấn chính sách.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế/ 2017, Số 9, Tr.20-31

7. Những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Việt Nam và Hàn Quốc sau chiến tranh lạnh/ Park Noh Wan

Tóm tắt: Những thay đổi và xu hướng trong chính sách đối ngoại của Hàn Quốc sau chiến tranh lạnh; Chinh sách đối ngoại Việt Nam và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế; khủng hoảng kinh tế toàn cầu và đối sách của Hàn Quốc và Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á/ 2013, Số 6, Tr.3-14

8. Chính sách đối ngoại trong văn kiện đại hội XII của Đảng Cộng Sản Việt Nam/ GM Lokshin, Lê Thanh Vạn

Tóm tắt: Bài viết này cố gắng điểm qua những nét chính trong chủ trương, đường lối và chính sách đối ngoại của Việt Nam do Đại hội XII của Đảng Cộng Sản Việt Nam đề ra.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế/ 2016, Số 2, Tr.30-43

9. Cục diện thế giới và đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay/ Nguyễn Viết Thảo

Tóm tắt: Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực có nhiều biến động khó lường, thời cơ và thách thức luôn đan xen, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải luôn cập nhật, phân tích, đánh giá tình hình, trên cơ sở đó có sự bổ sung, phát triển đường lối đổi mới nói chung, đường lối đối ngoại nói riêng phù hợp với điều kiện mới trong cục diện thế giới hiện nay.

Nguồn trích: Tạp chí Lịch sử Đảng/ 2018, Số 331, Tr.62-70

10. Các nhân tố và cấp độ trong phân tích chính sách đối ngoại / Vũ Dương Huân

Tóm tắt: Hiện chưa có “lý thuyết” hoàn chỉnh theo đúng nghĩa về chính sách đối ngoại. Giới nghiên cứu mới chấp nhận khái niệm phân tích chính sách đối ngoại. Để hoạch định được chính sách đối ngoại một cách đúng đắn, khoa học cần phải tính đến các nhân tố khác nhau. Đó là địa – chính trị của quốc gia, mục tiêu quốc gia, sức mạnh tổng hợp quốc gia, chính trị nội bộ, dư luận xã hội, yếu tố văn hóa, lịch sử, bối cảnh quốc tế và khu vực, các lý thuyết về quan hệ quốc gia và đối ngoại…Ngoài ra, phải tính đến lợi ích quốc gia – dân tộc, một nhân tố tổng hợp, hòn đá tảng trong hoạch định chính sách đối ngoại (tuy nhiên, phân tích lợi ích quốc gia – dân tộc không thuộc phạm vi nghiên cứu của bài viết này). Bên cạnh việc phân tích các nhân tố, cần phải quan tâm đến ba cấp độ trong phân tích chính sách đối ngoại là: hệ thống quan hệ quốc tế, quốc gia và cá nhân.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế/ 2016, Số 2, Tr.186-205

11. Bàn về chính sách đối ngoại/ PGS. TS. Vũ Dương Huân

Tóm tắt: Chính sách đối ngoại là chủ trương, đường lối, chiến lược, sách lược, biện pháp của quốc gia trong quan hệ với các chủ thể khác trên vũ đài quốc tế. Bản chất chính sách đối ngoại là sự tiếp tục của chính sách đối nội, suy cho cùng là để phục vụ chính sách đối nội là sự phản ứng trước những sự thay đổi của tình hình quốc tế. Có nhiều nhân tố tác động đến hoạch định chính sách đối ngoại như chế độ chính trị, địa chính trị, sức mạnh quốc gia, chính trị nội bộ, dư luận xã hội, nhóm lợi ích, bối cảnh quốc tế và nhiều nhân tố khác nữa. Nhân tố tổng hợp quy định việc hoạch định chính sách đối ngoại là lợi ích quốc gia dân tộc. Nội dung của chính sách đối ngoại bao gồm việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc, phương châm, phương hướng và các biện pháp hoạt động đối ngoại. Để thực hiện chính sách đối ngoại phải có biện pháp và công cụ. Các công cụ chủ yếu trong chính sách đối ngoại là công cụ ngoại giao, công cụ kinh tế, công cụ luật pháp quốc tế, công cụ thông tin – tuyên truyền và công cụ quân sự. Công cụ không thay được chính sách, chính sách quy định sử dụng công cụ. Lựa chọn đúng công cụ và liều lượng là tài năng của người ra quyết sách, đặc biệt là công cụ quân sự.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế/ 2016, Số 1, Tr.169-185

12. Những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Thổ Nhĩ Kỳ hậu đảo chính và cơ hội cho mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ/ Bùi Ngọc Tú

Tóm tắt: Sau một loạt những sự kiện về khủng hoảng chính trị và ngoại giao kéo dài từ năm 2014 đến năm 2017, nền kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ đang hứng chịu những ảnh hưởng tiêu cực. Các mối quan hệ truyền thống với EU, Mỹ và Nga liên tục gặp những khủng hoảng. Điều này khiến cho nền kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ phải chịu nhiều tác động xấu trong một thời gian dài. Điều này buộc chính quyền Ankara phải có những điều chỉnh lớn trong chiến lược ngoại giao của nước này. Bài viết này sẽ tập trung ba vấn đề: Sự thay đổi trong chiến lược đối ngoại của Thổ Nhĩ Kỳ; Mối quan hệ ngoại giao và thương mại của Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ; Cơ hội nào cho mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương/ 2018, Số 530, Tr.43-45

13. Bàn về một số đặc thù của chính sách đối ngoại/ Nguyễn Thanh Mai

Tóm tắt: Bản chất của chính sách đối ngoại là sự tiếp tục tận dụng các điều kiện để thực hiện các mục tiêu đề ra trong chính sách quốc gia trong môi trường quốc tế vô chính phủ, nơi luật pháp quốc gia không còn hiệu lực. Do vậy, chính sách đối ngoại có đặc thù của các phương diện: Đối tượng tác động; Văn kiện thể hiện; Nhiệm vụ cụ thể; Cơ sở hoạch định; Quy trình hoạch định; Công cụ thực thi.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu/ 2017, Số 10, Tr.64-73

14. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại quốc phòng đa phương của quân đội nhân dân việt nam trong điều kiện hiện nay/ Nguyễn Năng Nam 

Tóm tắt: Bài viết này, tập trung phân tích làm rõ một số vấn đề cơ bản về đối ngoại Quốc phòng đa phương; một số diễn đàn hợp tác đối ngoại quốc phòng Việt Nam tham gia; đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp cơ bản để đẩy mạnh hoạt động đối ngoại Quốc phòng đa phương của Quân đội nhân dân Việt Nam trong điều kiện hiện nay.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Đại học mở Tp.HCM/ 2016, Số 4 (49), Tr. 117 - 125

15. Hoạt động đối ngoại nhân dân trong đời sống chính trị Việt Nam và thế giới những năm đầu thế kỉ XXI/ Trần Thị Thúy Hà

Tóm tắt: Những năm đầu thế kỷ XXI, toàn cầu hóa cùng những thay đổi mạnh mẽ, phức tạp khó lường đòi hỏi các quốc gia phải xây dựng cho mình “sức mạnh thông minh” (smart power). Trong hệ thống các phương tiện để có được sức mạnh thông minh đó có đối ngoại nhân dân (people to people relations). Đối ngoại nhân dân đã đi vào từ điển từ vựng ngoại giao thế kỷ XXI. Đối ngoại nhân dân ngày càng trở thành một thành tố quan trọng, lồng ghép vào tất cả các lĩnh vực của hoạt động đối ngoại. Ở Việt Nam, đối ngoại nhân dân là một trong ba trụ cột của ngoại giao hiện đại. Thấm nhuần tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đối ngoại nhân dân đã, đang và sẽ tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của mình trong nền ngoại giao đổi mới, giúp củng cố và tăng cường quan hệ hợp tác với các quốc gia, các vùng lãnh thổ, các tổ chức, cá nhân, nhân dân các nước, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế cũng như trong khu vực.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn/ 2014, Tập 30, Số 4, Tr. 54-64

 

Tổng hợp: Võ Hồng Thơ

1. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục hướng nghiệp/ Đặng Thị Phương Phi

Tóm tắt: Nghề nghiệp có tầm ảnh hưởng rất lớn trong cuộc sống của mọi người. Hiện nay với tốc độ phát triển vượt bậc, đất nước ta càng tiến bộ hơn, hiện đại hơn để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người, xã hội cũng như để hòa nhập với xu thế của thời đại. Hiển nhiên, để đảm bảo cân bằng xã hội, nhu cầu càng cao thì yêu cầu xã hội càng cao đặc biệt là trong lĩnh vực nghề nghiệp. Chính vì vậy, hoạt động giáo dục hướng nghiệp có vai trò rất quan trọng đối với nhà trường. Song, việc nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động giáo dục hướng nghiệp vẫn chưa đủ mà nhà trường còn phải đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng trong hoạt động này.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế - Công nghiệp/ 2014, Số 3, Tr.34-38

Trong môi trường giáo dục đại học, song song với việc tăng cường chất lượng dịch vụ giáo dục, thì dịch vụ hỗ trợ sinh viên đóng vai trò quan trọng không kém, dịch vụ hỗ trợ sinh viên liên quan trực tiếp đến mọi mặt đời sống của sinh viên. Dịch vụ này được hình thành và phát triển theo hướng hỗ trợ, chăm sóc, phục vụ, dịch vụ, tạo sự hài lòng cho sinh viên, phù hợp với quản trị đại học hiện đại và chuẩn mực của các trường đại học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới; nhằm góp phần mang đến cho sinh viên những điều kiện học tập và sinh hoạt tốt nhất tại trường đại học.

Để hiểu rõ hơn về dịch vụ hỗ trợ sinh viên trong trường đại học, Thư viện thân mời bạn đọc tham khảo một số nghiên cứu được tổng hợp từ báo, tạp chí chuyên ngành và Kỷ yếu khoa học sau:

Liên kết bốn nhà trong nông nghiệp là sự liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp và nhà khoa học dưới sự hỗ trợ của nhà nước nhằm gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định, bền vững; tiến tới sản xuất hàng hóa quy mô lớn, hiện đại.

Để hiểu rõ hơn về mô hình liên kết này, mời các bạn tham khảo một số nghiên cứu được tổng hợp từ báo, tạp chí, kỷ yếu sau.

Mời các bạn cùng tham khảo!

1. Quy hoạch và quản lý quy hoạch đô thị Cần Thơ sau 15 năm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương/ Trần Quốc Trung

Tóm tắt: Sau 15 năm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, diện mạo thành phố Cần Thơ đã có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng vươn lên thành một đô thị sinh thái đặc trưng cùng sông nước, văn minh, hiện đại, giữ vai trò là đô thị trung tâm - động lực phát triển của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Để đảm bảo cho đô thị Cần Thơ phát triển hài hòa, bền vững, một trong những nhiệm vụ mà thành phố luôn chú trọng là thưc hiện tốt công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch đô thị.

Nguồn trích: Tạp chí Cộng sản/ 2018, Số 912, Tr.85-89

An Giang - Điểm đến an toàn, thân thiện đối với du khách - đó là thông điệp mà UBND tỉnh An Giang truyền đi trong chương trình kích cầu du lịch nội địa năm 2020. Chương trình kích cầu du lịch nội địa sẽ cung cấp cho du khách các gói sản phẩm, dịch vụ du lịch đảm bảo chất lượng và an toàn, hấp dẫn của các đơn vị dịch vụ du lịch như: dịch vụ lưu trú, mua sắm, ăn uống, khu du lịch, điểm du lịch...

Thư viện Trường Đại học An Giang giới thiệu đến bạn đọc thông tin chuyên đề từ các bài báo, tạp chí đề cập đến các loại hình du lịch (du lịch văn hóa, du lịch tâm linh, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái), các sản phẩm du lịch đặc thù (du lịch di sản văn hóa, du lịch làng nghề truyền thống…) và hoạt động du lịch tận dụng các nguồn tài nguyên sẵn có của An Giang, qua đó góp phần nâng cao nhận thức và quảng bá du lịch tỉnh nhà.

1. Những vấn đề đặt ra với thông tin báo chí trong tham gia xây dựng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước/ Lưu Văn An

Tóm tắt: Trong xã hội bùng nổ thông tin hiện nay, thông tin báo chí là kênh quan trọng góp phần tuyên truyền, phổ biến quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thông tin báo chí ở nước ta thời gian qua vẫn còn không ít hạn chế, đặt ra nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết.

Nguồn trích: Tạp chí Cộng sản/ 2018, Số 138, Tr.45-51

1. Vai trò của các tổ chức phi chính phủ ở Campuchia từ năm 1991 đến nay/ Cao Thị Mai Hoa

Tóm tắt: Đóng góp quan trọng của các tổ chức phi chính phủ (NGO) trong nỗ lực phục hồi, tái thiết và phát triển của Campuchia gần ba thập qua được chính phủ Hoàng gia Campuchia và Cơ quan tài trợ quốc tế công nhận. NGO đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản, quan trọng hơn, NGO đưa các mô hình thay thể và phương pháp tiếp cận để phát triển, nhấn mạnh sự công bằng về giới và phát triển bền vững môi trường.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á/ 2018, Số 9, Tr.57-62