1. Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam/ Nguyễn Thị Phương Liên

Tóm tắt: Thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Những năm gần đây, thì trường TPCP Việt Nam đã đạt được những thành công nhất định nhưng cũng còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển thị trường TPCP Việt Nam giai đoạn 2010-2015 từ các nguồn thông tin, dữ liệu thứ cấp, bài viết chỉ ra một số hạn chế về chủng loại hàng hóa, phương thức giao dịch, cơ sở nhà đầu tư; làm rõ các nguyên nhân chính dẫn đến những hạn chế trong quá trình phát triển của thị trường như hệ thống thông tin thị trường, các điều kiện cơ sở hạ tầng, môi trường pháp lý... Từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp cho sự phát triển an toàn, hiệu quả của thị trường trong thời gian tới.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Thương mại/ 2017, Số 103, Tr. 3-12

 

TẠP CHÍ IN (Bản in được lưu tại quầy Tham khảo - Tầng 4 TV)

1. Du lịch văn hóa: Những chiều tác động và tính bền vững trong phát triển / Nguyễn Thị Phương Châm

Tóm tắt: Nội dung bài viết trình bày về khái niệm du lịch văn hóa, những chiều hướng tác động của du lịch văn hóa đến các giá trị văn hóa. Từ đó, tác giả cho thấy tính bền vững trong quá trình phát triển du lịch văn hóa hiện nay.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, 2019, Số 3 (183), tr. 3-11

2. Vai trò của du lịch văn hóa trong chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam / Nguyễn Anh Tuấn, Lê Hoàng Anh

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến đôi nét về du lịch văn hóa, thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra định hướng phát triển du lịch văn hóa trong thời gian tới: (1) tiếp tục đầu tư việc khai thác bảo tồn các giá trị tài nguyên du lịch văn hóa; (2) đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững; (3) tăng cường mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch; (4) đầu tư cho việc bảo tồn và tôn tạo các giá trị văn hóa.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 8/2019, Số 422, tr. 5-8

3. Phát huy giá trị của bảo tàng trong du lịch văn hóa / ThS. Phan Thị Thái Hà

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến vai trò của ngành Bảo tàng trong phát triển mô hình du lịch văn hóa. Qua đó, tác giả đưa ra các giải pháp về nguồn nhân lực; đổi mới nội dung trình bày, đa dạng hóa hình thức trưng bày hiện vật tại Bảo tàng; xác định thị trường khách tham quan du lịch; đầu tư xây dựng của hàng lưu niệm; xây dựng biểu tượng độc đáo, đặc trưng cho từng địa điểm; xây dựng kế hoạch tuyên truyền quảng bá để thu hút khách tham quan, …

Nguồn trích: Tạp chí Du lịch, 2019, Số 9, tr. 32-33

4. Những quan điểm tiếp cận mới trong công tác bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị  di sản văn hóa qua con đường du lịch ở Việt Nam hiện nay / Dương Văn Sáu

Tóm tắt: Bài viết trình bày các quan điểm tiếp cận mới về bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa. Từ đó, tác giả đưa ra các nhiệm vụ trong công tác bảo tồn, khai thác, phát huy các giá trị của di sản văn hóa qua con đường du lịch: biến di sản thành tài sản, biến văn hóa thành hàng hóa, biến tài nguyên thành tài chính, biến môi trường thành thị trường, biến nguồn lực thành động lực, biến giá trị thành giá cả.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 9/2019, Số 423, tr. 49-52

5. Phát triển du lịch Việt Nam theo hướng bền vững / Tô Đức Hạnh

Tóm tắt: Bài viết phân tích, đánh giá những thành tựu, những hạn chế và nguyên nhân của du lịch Việt Nam qua các khía cạnh; tốc độ phát triển du lịch; cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch; các điểm đến các sản phẩm du lịch và năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một só giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển du lịch Việt Nam theo hướng bền vững.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, 2019, Số 7, tr. 74-82

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

Địa chỉ truy cập: http://lhtv.vista.vn/ (Chọn STD - Tài liệu KH&CN Việt Nam)
Lưu ý: Bạn đọc vui lòng truy cập theo hệ thống mạng nội bộ của Trường Đại học An Giang để đọc và download toàn văn tài liệu.

1. Du lịch văn hóa ở Việt Nam - một cách nhìn toàn cảnh / Trần Thúy Anh, Phan Quang Anh

Tóm tắt: Du lịch văn hóa là hoạt động du lịch khám phá và trải nghiệm bản sắc văn hóa với tham gia của cộng động theo tôn chỉ bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Các nước đang phát triển được thế giới công nhận là điểm đến trong thời đại mới của loại hình du lịch này và Việt Nam, với tư cách là một nền kinh tế đang đà đi lên hội nhập quốc tế cũng không phải là ngoại lệ.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa học, 2014, Số 1, tr. 49-54

2. Hướng tới quy hoạch du lịch văn hóa hiệu quả ở vùng ven biển / Geoffrey Wall

Tóm tắt: Khu vực duyên hải là môi trường phức tạp về mặt hình thái, văn hóa và hành chính. Về mặt hình thái lãnh thổ, chúng bao gồm cả phần đất liền, biển và làn ranh giới khúc khuỷu ở giữa. Chúng có độ rộng thay đổi tùy theo khu vực và thẩm quyền, cũng như độ cao và chiều sâu. Hơn nữa, khu vực ven biển chịu ảnh hưởng rất lớn từ các quá trình diễn ra sâu trong đất liền mà cụ thể ở đây là những nguồn nước có khối lượng và chất lượng khác nhau từ những con sông tạo ra và những ảnh hưởng này được phân bố bởi các dòng chảy.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa học, 2014, Số 1, tr. 30-36

3. Nghiên cứu giải pháp phát triển các sản phẩm du lịch gắn với đời sống văn hóa cộng đồng tỉnh An Giang thời kỳ hội nhập / Nguyễn Phú Thắng

Tóm tắt: An Giang là nơi sinh sống của nhiều thành phần dân tộc, trong đó có người Kinh, Hoa, Chăm, Khơ - me. Các cộng đồng dân tộc với những nét văn hóa phong phú là yếu tố thuận lợi cho việc phát triển các sản phẩm du lịch dựa vào cộng đồng. Trong bối cảnh hoạt động du lịch của tỉnh còn đơn điệu về hình thức, việc phát triển các sản phẩm du lịch gắn liền với đời sống văn hóa cộng đồng là một hướng đi quan trọng nhằm thu hút khách du lịch, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc. Trên cơ sở phân tích các lợi thế, thách thức trong phát triển sản phẩm du lịch gắn với cộng đồng tỉnh An Giang thời kì hội nhập, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản để phát triển du lịch cộng đồng ở An Giang.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Giáo dục (Đại học Sư phạm - Đại học Huế), 2015, Số 2, tr. 96-104

4. Du lịch văn hóa trong xu thế toàn cầu hóa / Vũ Thị Lương, Nguyễn Thị Thảo

Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa, bài viết đánh giá những tác động của toàn cầu hóa tới văn hóa và phát triển du lịch văn hóa. Đồng thời, nhận định việc khai thác các giá trị văn hóa trong du lịch là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành du lịch Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hóa.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 2016, Số 8,  tr. 39-41

5. Phát triển sản phẩm du lịch dựa trên đặc thù văn hóa truyền thống, địa lí của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thực trạng và giải pháp / Nguyễn Thị Hằng

Tóm tắt: Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, hoạt động du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng, ngày càng chiếm vị trí quan trọng. Mỗi quốc gia, vùng, miền đều coi trọng sự phát triển du lịch văn hóa, nhằm góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong qua trình hội nhập. Đồng bằng Sông Cửu Long là một trong bảy vùng du lịch của cả nước có nguồn tài nguyên và văn hóa đa dạng, với các sản phẩm du lịch phong phú. Tuy nhiên, trong hoạt động du lịch, các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, thiếu điểm nhấn. Vì vậy, cần tìm ra giải pháp để phát triển mạnh mẽ du lịch Đồng bằng Sông Cửu Long, trong đó, việc tạo ra các sản phẩm du lịch theo hướng du lịch văn hóa, du lịch sinh thái phù hợp với đặc thù Đồng bằng Sông Cửu Long là cấp thiết.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học chính trị, 2017, Số 7, tr. 79-83

Tổng hợp: Nguyễn Thị Cẩm Thiêu

1. Hiện trạng, định hướng và giải pháp liên kết phát triển, hợp tác trong các lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch vùng kinh tế trọng điểm phía Nam/ Hoàng Công Dân

Tóm tắt: Văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch là những lĩnh vực quan trọng trong đời sống kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với nhau. Những mô hình và phương thức liên kết là một mặt không thể thiếu trong định hướng phát triển ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, giai đoạn đến năm 2020 và định hướng năm 2030.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Đào tạo và huấn luyện Thể thao/ 2016, Số ĐB, Tr.73-77

1. Tác động của kinh tế phi chính thức đến tăng trưởng kinh tế/ Đỗ Tất Cường

Tóm tắt: Trong điều kiện số liệu, dữ liệu về kinh tế phi chính thức ở Việt Nam còn ít và chưa hệ thống, bài viết sử dụng tối đa các nguồn dữ liệu sẵn có kết hợp với phương pháp phân tích hồi quy theo chuỗi thời gian. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, giữa kinh tế phi chính thức và tăng trưởng kinh tế không tồn tại quan hệ nhân quả mà chỉ tồn tại quan hệ ảnh hưởng của kinh tế phi chính thức tới tăng trưởng kinh tế. Trong kỳ nghiên cứu, quy mô kinh tế phi chính thức tăng 1% thì dẫn tới tốc độ tăng trưởng kinh tế mất đi 0,06 điểm %. Để nhằm hạn chế ảnh hưởng xấu tới tăng trưởng kinh tế, bài viết đưa ra một số hàm ý chính sách tập trung vào việc cải thiện hiệu quả quản trị quốc gia của Nhà nước.

Nguồn trích: Tạp chí Tài chính/ 2019, Kỳ I Tháng 8, Tr. 12 - 15

Phần 2: Nhng vấn đề thực tiễn nông thôn

Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tụ nhiên khoảng 4,661 triệu ha với dân số gần 18 triệu người, là vùng có khí hậu cận xích đạo nên thuận lợi phát triển ngành nông nghiệp (mưa nhiều, nắng nóng) đặc biệt là phát triển trồng lúa nước và cây lương thực.

Mặc dù diện tích canh tác nông nghiệp và thủy sản chưa tới 30% của cả nước nhưng Đồng bằng sông Cửu Long đóng góp hơn 50% diện tích lúa, 71% diện tích nuôi trồng thủy sản, 30% giá trị sản xuất nông nghiệp và 54% sản lượng thủy sản của cả nước.  Nhờ vậy nên Đồng bằng sông Cửu Long là nơi xuất khẩu gạo chủ lực của cả đất nước. Ngoài ra cây ăn quả còn là đặc sản nổi tiếng của vùng, với sự đa dạng về số lượng, cũng như chất lượng ngày càng được nâng cao.

Về dịch vụ, vùng Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm các ngành chủ yếu: xuất nhập khẩu, vận tải thủy và du lịch. Xuất khẩu gạo chiếm 80% của cả nước. Giao thông đường thủy giữ vai trò quan trọng nhất.

Ở Đồng bằng sông Cửu Long khu vực nông thôn gắn liền với nông nghiệp và chiếm diện tích lớn. Trong thời gian vừa qua các cơ quan có thẩm quyền đã quan tâm, đầu tư và có nhiều chính sách ưu đãi cho vùng. Để nắm rõ thực tiễn việc phát triển nông thôn vùng Đồng bằng Sông Cửu Long diễn ra như thế nào, mời các bạn tham khảo qua các bài tham luận sau đây.

Các bài tham luận được trích từ Tài liệu phục vụ hội thảo “Phát triển nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long từ thực tiễn đến chính sách” tổ chức tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ngày 05 tháng 10 năm 2018.

Lưu ý: Các bạn truy cập vào từng nhan đề để xem toàn văn tài liệu.

Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển hợp tác xã kiểu mới (Tr.343)

UBND TỈNH HẬU GIANG

Mô hình văn hóa tiêu biểu trong xây dựng nông thôn mới: nhìn từ huyện Cần Đước, tỉnh Long An (Tr. 349)

NCS. TRƯƠNG ĐỨC THUẬN

Vấn  đề  “tham  gia”  trong  hoạt  động  xây  dựng  nông thôn mới trà vinh thực trạng và hướng đề xuất giải pháp (Tr. 359)

NCS ĐOÀN THỊ NGUYỆT MINH - PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐỆ

Từ thực tế  khai  thác du  lịch  nông thôn  bước đầu  đề xuất xây dựng chính sách và giải pháp bảo vệ  môi  trường tại cù lao An Bình - tỉnh Vĩnh Long (Tr.  371)

NGUYỄN DIỄM PHÚC - NGUYỄN THỊ KIỀU NGA -NGUYỄN DUY THÀNH

Nâng  cấp  chuỗi  giá  trị  du  lịch  bạc  liêu  gắn  với  định hướng liên kết ngành và liên kết vùng (Tr. 391)

PGS.TS NGUYỄN XUÂN HƯƠNG - TS. TẠ DUY LINH

THS DƯƠNG ĐỨC MINH -  NGUYỄN THÁI NGỌC HÀ

Nhìn từ thực tiễn khai thác phát triển du lịch đề xuất chính  sách  xây  dựng các mô hình du lịch cộng đồng tại quận Thốt Nốt thành phố Cần Thơ  (Tr. 414)

PGS.TS NGUYỄN XUÂN HƯƠNG - TS. TẠ DUY LINH

THS DƯƠNG ĐỨC MINH

Khai thác tri thức bản địa để phát triển du lịch sinh thái  cộng  đồng  ở  xã  Thạnh  Phong  (huyện  Thạnh  Phú,  tỉnh Bến Tre) (Tr. 431)

NGUYỄN THANH LỢI

Sản  xuất  và  tiêu  thụ  trái  cây  tại  tỉnh  Bến  Tre:  tiềm năng và thách thức phát triển (Tr. 439)

THS. NGUYỄN THỊ VÂN

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia hợp đồng tiêu thụ lúa giữa nông dân và   doanh nghiệp tại huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ (Tr. 451)

TRẦN THANH DŨNG - PHẠM NGUYỄN ĐĂNG KHOA

Tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp vùng  ven  biển tỉnh Bến  Tre  –  thực trạng  và  các  giải  pháp nâng cao năng lực thích ứng cho cộng đồng (Tr. 461)

THS NGUYỄN THỊ THU THỦY

Quản lý tài nguyên nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu: thực tiễn từ dự án “Smart Farming” được thực hiện bởi trường Đại Học Trà Vinh (Tr. 480)

PHẠM VŨ BẰNG - TS. DIỆP THANH TÙNG

Liên kết vùng trong quản lý và chia sẻ nguồn nước ở vùng Tứ Giác Long Xuyên (Tr. 489)

ThS Trần Thế Định

Nhận thức của người dân về tác động của biến đối khí hậu đến sức khỏe cộng đồng (Nghiên cứu tại xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre) (Tr. 499)

HVCH. ĐINH VĂN MÃI

Trường Đại Học Tiền Giang đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp của Tiền Giang (Tr. 512)

THS VÕ VĂN SƠN - THS LƯƠNG HỒNG THANH

Nét  phong  phú  và  đặc  thù  trong  văn  hóa  Chăm ở An Giang: Nét phong phú và đặc thù trong văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long (Tr. 521)

THS. NGUYỄN VĂN TRANG

Giá trị tác phẩm đời sống mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc xây dựng nông thôn mới ở An Giang hiện nay (Tr. 530)

TH.S HUỲNH NGỌC AN

Vận dụng hành lang pháp lý -  luật bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn ở An Giang (Tr. 538)

THS NGUYỄN MINH DIỄM QUỲNH

Sự giao lưu và bảo tồn bản ngữ của cộng đồng người Khmer ở khu vực An Giang (Tr. 548)

TRẦN QUỐC GIANG

Một vài ý kiến trong thực hiện chính sách dân tộc ở Cần Thơ (Tr. 557)

THS HUỲNH HOÀNG BA

Nâng cao hàm lượng khoa học - Đòn bẩy phát triển du lịch miệt vườn Chợ Lách (Tr. 568)

PHẠM VĂN LUÂN

Vai  trò  của  trường Đại  Học  Trà  Vinh  trong  việc  đào tạo  nguồn nhân lực chất  lượng cao  cho  tiểu  vùng duyên hải phía đông Đồng bằng sông Cửu Long (Tr. 578)

LÊ THỊ THU DIỀM - THS. NGUYỄN THIỆN THUẬN

Nhận  thức  của  người  dân  Bến  Tre  về  sức  khỏe  cộng đồng dưới tác động của biến đổi khí hậu  (điển cứu: xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre) (Tr. 598)

TH.S. NGUYỄN THỊ THANH TÙNG - TH.S NGUYỄN THỊ THU HIỀN

Cấu trúc giới trong gia đình và cộng đồng ở nông thôn tỉnh Tiền Giang (Tr. 618)

TH.S TRẦN KHÁNH HƯNG

Phần 1: Những vấn đề chung về nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tụ nhiên khoảng 4,661 triệu ha với dân số gần 18 triệu người, là vùng có khí hậu cận xích đạo nên thuận lợi phát triển ngành nông nghiệp (mưa nhiều, nắng nóng) đặc biệt là phát triển trồng lúa nước và cây lương thực.

Mặc dù diện tích canh tác nông nghiệp và thủy sản chưa tới 30% của cả nước nhưng Đồng bằng sông Cửu Long đóng góp hơn 50% diện tích lúa, 71% diện tích nuôi trồng thủy sản, 30% giá trị sản xuất nông nghiệp và 54% sản lượng thủy sản của cả nước.  Nhờ vậy nên Đồng bằng sông Cửu Long là nơi xuất khẩu gạo chủ lực của cả đất nước. Ngoài ra cây ăn quả còn là đặc sản nổi tiếng của vùng, với sự đa dạng về số lượng, cũng như chất lượng ngày càng được nâng cao.

Về dịch vụ, vùng Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm các ngành chủ yếu: xuất nhập khẩu, vận tải thủy và du lịch. Xuất khẩu gạo chiếm 80% của cả nước. Giao thông đường thủy giữ vai trò quan trọng nhất.

Ở Đồng bằng sông Cửu Long khu vực nông thôn gắn liền với nông nghiệp và chiếm diện tích lớn. Trong thời gian vừa qua các cơ quan có thẩm quyền đã quan tâm, đầu tư và có nhiều chính sách ưu đãi cho vùng. Để nắm rõ tình hình phát triển nông thôn Đồng bằng Sông Cửu Long từ thực tiễn đến các chính sách, mời các bạn tham khảo qua các bài tham luận sau đây.

Các bài tham luận được trích từ Tài liệu phục vụ hội thảo “Phát triển nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long từ thực tiễn đến chính sách” tổ chức tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ngày 05 tháng 10 năm 2018.

Lưu ý: Các bạn truy cập vào từng nhan đề để xem toàn văn tài liệu.

Chính sách phát triển mang tính đột phá để xây dựng nền  nông  nghiệp  công  nghệ  cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế và biến đổi khí hậu hiện nay (Tr.9)

PGS.TS VŨ TRỌNG KHẢI

Phát triển nông nghiệp theo mô hình tăng trưởng xanh tại tiểu vùng Duyên hải phía đông Đồng bằng sông Cửu Long (Tr. 15)

DIỆP THANH TÙNG - TS LÊ THỊ THU DIỀM

Vai trò của nhà nước trong xây dựng nông thôn mới  ở Hàn Quốc và Việt Nam: Một cách đối sánh (Tr. 31)

LÊ TÙNG LÂM

Phát triển nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long từ đầu thế kỷ XXI đến nay thành tựu, hạn chế và khuyến nghị (Tr. 48)

NCS. HUỲNH TÂM SÁNG - HOÀNG VĂN TUẤN

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn ứng dụng các biện pháp sản xuất nông nghiệp bền vững của nông hộ (trường hợp nghiên cứu ở Đồng bằng sông Cửu Long) (Tr. 68)

PGS.TS ĐINH PHI HỔ - PGS.TS. VÕ KHẮC THƯỜNG

NCS. LƯU TIẾN DŨNG

Liên kết không gian du lịch phía tây Đồng bằng sông Cửu Long - Hiện trạng và giải pháp (Tr. 87)

TH.S PHAN THỊ HỒNG CÚC - THS. PHAN THỊ HỒNG DUNG

Cách tiếp cận chuỗi giá trị để phát triển ngành hàng nông sản: Một số vấn  đề  thực tiễn tại Đồng bằng sông Cửu Long (Tr. 104)

PGS.TS. HUỲNH TƯỜNG HUY

Phát huy giá trị văn hóa tinh thần truyền thống đoàn kết, nâng cao ý thức cộng đồng dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long trong quá trình công nghiệp hoá –  hiện đại hóa nông thôn thế kỷ XXI  (Tr. 118)

HÀ TRIỆU HUY

Phát triển nguồn nhân lực từ góc nhìn về giáo dục, lao động và việc làm  ở nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long (Tr. 127)

PGS.TS NGUYỄN VĂN TIỆP

Phát triển nông nghiệp thông minh thích ứng biến đổi khí hậu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Tr. 143)

THS. NGÔ HOÀNG ĐẠI LONG

Tác động của biến đổi khí hậu đối với sinh thái và nhân văn vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Tr. 158)

THS. NGUYỄN TRỌNG NHÂN

Tác động của biến đổi khí hậu đến đời sống cộng đồng người khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Tr. 169)

PHẠM THỊ THU HÀ - PHẠM NGỌC HÒA

Bảo đảm chất lượng cuộc sống cho  người dân  bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay (Tr. 178)

ĐỖ THỊ HIỆN

Phụ nữ và du lịch nông thôn: đồng hành cùng phát triển trong bối cảnh hội nhập (nghiên cứu trường hợp Cồn Sơn, Cần Thơ) (Tr. 189)

TS NGÔ THANH LOAN - THS TRẦN THỊ TUYẾT VÂN

HVCH. TRƯƠNG HOÀNG TỐ NGA

Phát triển mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay (Tr. 205)

TH.S NGUYỄN QUANG TRUNG

Phát triển nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu: Quan điểm và hướng đi mới (Tr. 215)

TS NGUYỄN ĐỖ ANH TUẤN -  ĐẶNG KIM KHÔI

LÊ THỊ HÀ LIÊN - PHẠM ĐỨC THỊNH

Nguồn nhân lực ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay từ chiều kích giáo dục và đào tạo (Tr. 225)

THS NGUYỄN QUANG GIẢI - THS ĐỖ KIM DUNG

Vấn đề sở hữu đất đai và ảnh hưởng của nó đến việc phát triển nông nghiệp công nghệ  cao ở Đồng bằng sông Cửu Long (Tr. 236)

NGUYỄN NGỌC PHÚC -TS. PHAN THỊ THÚY VÂN

Yêu cầu phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long trước bối cảnh biến đổi khí hậu (Tr. 247)

THS NGUYỄN THỊ DIỄM MY

Di cư do biến đổi khí hậu, áp lực môi trường: câu chuyện phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhìn từ cộng đồng gốc của những người di cư (nghiên cứu trường hợp vùng thượng nguồn xã Vĩnh Lộc, huyện An Phú, tỉnh An Giang) (Tr. 252)

NGUYỄN VĂN BÌNH

Phát triển nông nghiệp không đều giữa các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Tr. 271)

PHẠM NGỌC ĐỈNH

Chợ nổi Đồng bằng sông Cửu Long: từ thực tiễn đến chính sách (Tr. 277)

TH.S TRẦN THỊ BÍCH THỦY

Chợ ở Đồng bằng sông Cửu Long trong xây dựng nông thôn mới (Tr. 287)

TH.S LÊ QUANG CẦN

Chiến lược đa văn hóa, đa tộc người ở Đồng bằng sông Cửu Long thời các chúa Nguyễn (Tr. 305)

TRẦN NGUYỄN KHÁNH PHONG

Đời sống văn hóa sông nước và tính cách của  người bình dân miền Tây Nam Bộ (Tr. 317)

THS. TRẦN MINH THƯƠNG

Đồng bằng sông Cửu Long cần tư duy mang tính cách mạng về quy hoạch (Tr. 335)

NGUYỄN GIA KIỆM

1. Quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ/ PGS. TS. Hoàng Thị Bích Loan

Tóm tắt: Quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ đã có từ rất lâu và hiện nay đang phát triển tốt đẹp. Việt Nam - Ấn Độ đã trở thành những đối tác kinh tế quan trọng của nhau, kim ngạch thương mại hai chiều tăng trưởng mạnh và bền vững trong những năm vừa qua, đặc biệt là kể từ sau khi Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIG) được ký kết vào năm 2009. Hiện nay, Ấn Độ là một trong mười đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam/ 2016, Số 5(102), Tr. 18 - 25

Tái cơ cấu ngành Nông nghiệp có thể hiểu đơn giản là trên những nguồn lực hiện có ở các địa phương (tài nguyên đất, điều kiện kinh tế, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, trình độ sản xuất của người dân) sẽ bố trí, cơ cấu lại các loại cây trồng, vật nuôi phù hợp và có tiềm năng, lợi thế, có thị trường tiêu thụ để tập trung nguồn vốn đầu tư vào sản xuất, trở thành hàng hóa, nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, nâng cao thu nhập bền vững cho người nông dân.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và biến đổi khí hậu đang diễn ra hết sức phức tạp thì việc tái cơ cấu nông nghiệp là vô cùng cần thiết và cấp bách đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Để giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này, mời các bạn tham khảo các bài nghiên cứu được tổng hợp từ các tạp chí, báo, kỷ yếu sau đây.

TÀI LIỆU IN CÓ TẠI THƯ VIỆN (Bản in được lưu tại Tầng 4)

1. Tỉnh Vĩnh Long sau 3 năm thực hiện cơ cấu lại nông nghiệp/ Bùi Văn Nghiêm

Tóm tắt: Cùng cả nước sau 3 năm thực hiện cơ cấu lại nông nghiệp theo Quyết định của Chính phủ, bước đầu tỉnh Vĩnh Long đạt được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên, còn tồn tại những hạn chế cần khắc phục để phát triển nông nghiệp bền vững. Trong thời gian tới, Vĩnh Long cần tiếp tục đẩy nhanh cơ cấu lại bằng những giải pháp sát hợp hơn nhằm đáp ứng mục tiêu bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội theo như Nghị quyết Đảnh bộ tỉnh lần thứ X đề xuất.

Nguồn trích: Tạp chí Cộng sản / 2016, số 119, tr.64-68

2. Bàn giải pháp về chính sách tín dụng nhằm chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp, nông thôn ở các tỉnh, thành phía Nam

Tóm tắt: Thực hiện chương trình cơ cấu lại kinh tế nông nghiệp, nông thôn; xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; xây dựng kết câu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển các đô thị; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, nhất là vùng khó khăn; đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có hiệu quả ở nông thôn; phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học - công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa nông thôn; đổi mới mạnh mẽ cơ chế chính sách để huy động cao các nguồn lực, phát triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nông dân.

Nguồn trích: Tạp chí Cộng sản / 2016, số 120, tr. 54-68

3. Thực trạng sản xuất và định hướng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre/ Lê Tấn Lợi, Phạm Thanh Vũ, Ngô Thị Thanh Hằng, Lý Hằng Ni

Tóm tắt: Nghiên cứu đánh giá thực trạng sản xuất nông nghiệp và định hướng quy hoạch sử dụng đất tại huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra thu thập số liệu, đánh giá thích nghi đất đai FAO và mô hình toán để xây dựng kế hoạch sử dụng đất tối ưu. Kết quả đánh giá thích nghi đã chia đất nông nghiệp của huyện Ba Tri thành 3 vùng thích nghi đáp ứng cho 5 kiểu sử dụng đất đai hiện tại như lúa 3 vụ, chuyên màu, chuyên dừa, chuyên tôm và muối. Đề tài đã đề xuất được phương án kế hoạch quy hoạch sử dụng đất với tối ưu hóa tổng thu nhập và định hướng cho sản phẩm nông nghiệp bố trí cho 5 kiểu sử dụng đất: vùng I thích nghi cho 3 vụ, chuyên dừa khoảng 12.091 ha. Vùng II thích nghi cho lúa 3 vụ, chuyên màu khoảng 4.475 ha. Vùng III thích nghi cho chuyên màu khoảng 4.983 ha. Vùng IV thích nghi cho lúa 3 vụ khoảng 1.572 ha. Vùng V thích nghi cho chuyên màu, chuyên dừa khoảng 507 ha. Vùng VI thích nghi cho chuyên tôm khoảng 5 ha. Vùng VII thích nghi cho chuyên tôm, muối khoảng 2.143 ha. Kết quả nghiên cứu giúp địa phương hoạch định chính sách tốt nhất cho quy hoạch kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp trong tương lai. Thêm vào đó, chính quyền địa phương cần có chính sách hỗ trợ vỗn và kỹ thuật cho nông dân để tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2016, Số 45B, tr.49-63

4. Đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trong vùng đê bao khép kín - Trường hợp nghiên cứu tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang/ Nguyễn Ngọc Ngân, Trần Thị Lệ Hằng, Nguyễn Xuân Thịnh, Văn Phạm Đăng Trí

Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trong vùng đê bao khép kín vùng thượng nguồn Đồng bằng sông Cửu Long, trường hợp nghiên cứu tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp nông hộ và tổng quan tài liệu được sử dụng dựa trên khung đánh giá tổng hợp DPSIR (Động lực – Áp lực – Hiện trạng – Tác động – Đáp ứng) nhằm xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn 2012 – 2016, người dân có xu hướng thu hẹp dần diện tích trồng lúa kém hiệu quả để chuyển sang trồng màu và cây ăn trái có hiệu quả kinh tế hơn. Ngoài ra, mô hình trồng bắp non kết hợp chăn nuôi bò là tiềm năng và thế mạnh để phát triển kinh tế tại khu vực nghiên cứu. Nguyên nhân quyết định sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp chủ yếu do yếu tố kinh tế xã hội bao gồm: hiệu quả kinh tế từ mô hình đem lại, nhu cầu thị trường và theo xu hướng chuyển đổi chung của người dân tại địa phương. Quá trình chuyển đổi bước đầu giúp phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của người dân. Tuy nhiên, một số người dân đã gặp khó khăn về kỹ thuật canh tác, chi phí đầu tư và khâu thu hoạch khi chuyển đổi mô hình sản xuất mới.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2017, Số chuyên đề: Môi

trường và Biến đổi khí hậu (2), tr.78-86

5. Tín dụng là đòn bẩy thúc đẩy cơ cấu lại ngành nông nghiệp ở tỉnh Đồng Tháp/ Lê Minh Hoan

Tóm tắt: Là tỉnh đi đầu trong thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp để chuyển đổi mô hình tăng trưởng, Đồng Tháp đã có nhiều quyết sách trong chính sách tín dụng nông nghiệp, nên bước đầu đạt những thành tựu đáng khích lệ. Tiếp tục phát huy vai trò của tín dụng, tỉnh Đồng Tháp cần triển khai nhiều giải pháp đồng bộ; đồng thời cũng cần sự quan tâm của Trung ương nhiều hơn nữa.

Nguồn trích: Tạp chí Cộng sản / 2017, số 895, tr.82-86

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

- Địa chỉ truy cập: http://lhtv.vista.vn/  (Chọn STD-Tài liệu KH&CN Việt Nam)

- Lưu ý: Bạn đọc vui lòng truy cập theo hệ thống mạng nội bộ của Trường Đại học An Giang để đọc và download toàn văn tài liệu.

6. Phát triển đồng bằng sông Cửu Long từ tái cơ cấu kinh tế/ Võ Hữu Phước

Tóm tắt: Ngoài tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại, thì tái cơ cấu ngành nông nghiệp và tái cơ cấu vùng là một trong những vấn đề cần thiết để phát triển kinh tế của Đồng bằng sông Cửu Long. Bài viết tập trung vào hai trục chính tring tái cơ cấu ngành nông nghiệp và tái cơ cấu vùng, từ đó đưa ra một số kiến nghị.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Chính trị / 2018, số 02, tr.80-84

7. Tái cơ cấu nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu / Nguyễn Hữu Thịnh

Tóm tắt: Đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do biến đổi khí hậu. Hiện tượng hạn hán, nước biển dâng, xâm nhập mặn, sạt lở... đã gây ra những tác động ngày càng nghiêm trọng đối với sự phát triển nông nghiệp và đời sống nhân dân trong vùng. Vì vậy, để thích ứng với biến đổi khí hậu, ngành nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long phải được tái cơ cấu thông qua việc thiết kế lại không gian phát triển; sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp; định vị lại hệ thống kết cấu hạ tầng theo hướng liên thông, kết nối toàn vùng; thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Quản lý / 2017, Số 24, tr.44-54

8. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp thành phố Cần Thơ theo hướng nông nghiệp đô thị/ Đào Ngọc Cảnh

Tóm tắt: Cần Thơ là thành phố trung tâm ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Trong những năm gần đây, tại Thành phố Cần Thơ, cơ cấu kinh tế, bao gồm cả cơ cấu nông nghiệp, đã chuyển giao với xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, xu hướng này chậm và không ổn định. Bài viết này phân tích tình hình chuyển giao cơ cấu nông nghiệp với xu hướng nông nghiệp đô thị và đề xuất một số giải pháp để phát triển nông nghiệp đô thị tại thành phố Cần Thơ.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học - ĐHSP Hà Nội / 2015, số 5, tr.162-168

9. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang giai đoạn 2000-2012/ Trần Thanh Hà, Nguyễn Thị Thùy Linh, Lê Thúy Hằng

Tóm tắt: Bài viết trình bài thành tựu của huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang trong việc chuyển dịch kinh tế nông nghiệp sau 30 năm thực hiện chính sách đổi mới kinh tế. Tác giả cũng đưa ra một số đánh giá về tính bền vững cũng như phân tích các yếu tố tác động chính tới quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn / 2015, số 3, tr.34-40

1. Triển khai Luật Quản lý, sử dụng tài sản công: Một năm nhìn lại/ TS. La Văn Thịnh; ThS. Nguyễn Tân Thịnh

Tóm tắt: Luật Quản lý, sử dụng tài sản công được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 21/6/2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) đến nay, sau hơn 01 năm triển khai đã thu được những kết quả bước đầu quan trọng. Nhiều bộ, ngành, địa phương đã tích cực, chủ động trong việc triển khai các nội dung đề cập trong Luật và các văn bản quy định chi tiết, góp phần quản lý chặt chẽ, sử dụng, khai thác có hiệu quả tài sản công của quốc gia.

Nguồn trích: Tạp chí Tài chính/ 2019, Kỳ I Tháng 4 (702), tr. 6 – 10

1. Nguồn lực tài chính thúc đẩy thị trường bất động sản Việt Nam phát triển/ PGS. TS. Trần Kim Chung - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương

Tóm tắt: Thị trường bất động sản Việt Nam được đánh giá là đang dần bước vào giai đoạn tài chính hóa. Đóng góp của ngành Bất động sản vào tăng trưởng GDP giai đoạn 2010 - 2018 là 0,6%; Quan hệ giữa vốn và giá trị gia tăng ngành Bất động sản là 0,5%; Mối quan hệ giữa tăng trưởng vốn và tăng trưởng giá trị gia tăng ngành này đạt mức 0,2%. Các thông số trên chỉ ra rằng, cần có giải pháp đồng bộ, với ít nhất 10 luồng tiền vào thị trường bất động sản mới có thể giúp thị trường này chuyển sang giai đoạn tài chính hóa và phát triển thành công.

Nguồn trích: Tạp chí Tài chính/ 2019, Kỳ I – Tháng 7 (708), tr. 6 – 9