TẠP CHÍ IN CÓ TẠI THƯ VIỆN (Bản in được lưu tại Tầng 4)

1. Nghiên cứu chọn tạo giống lúa ngắn ngày chịu mặn OM 347/ Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu

Tóm tắt: Giống lúa OM347 được chọn lọc từ tổ hợp lai OM10133/ IK0547 có ưu điểm cứng cây, đẻ nhánh khoẻ, năng suất cao (5 tấn/ha cho vụ hè thu và 8 tấn/ha cho vụ đông xuân). Kết quả khảo nghiệm qua các vụ cho thấy, giống lúa OM347 thích hợp trong cả hai vụ đông xuân và hè thu, phù hợp ở nhiều vùng đất khác nhau đặc biệt vùng mặn. Giống lúa OM347 có khả năng chống chịu được bệnh cháy bìa lá ở cấp 3, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá ở mức độ trung bình khá, hơi nhiễm đạo ôn (cấp 3-5). Giống lúa OM347 phù hợp cho các tỉnh/thành  như Bạc Liêu, An Giang, Hậu Giang, Long An, Cần Thơ và Trà Vinh.

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn – Chuyên đề “Giống cây trồng, vật nuôi”/ 2016, Tập 2, tr.7-15

2. Nghiên cứu, chọn tạo giống lúa ngon cơm OM 345/ Nguyễn Thị Lang, Trần Thị Thanh Xà, Bùi Chí Bửu

Tóm tắt: Giống lúa OM345 đưc chọn lọc t t hp lai MHT/OM4900. Giống lúa OM345 có ưu đim là cứng cây, đẻ nhánh kho, năng sut cao (6 tn cho vụ thu 8 tn/ha cho vụ đông xuân ), go tương đối do, ngon cơm. Kết quả kho nghim qua c vụ cho thy, ging lúa OM345 thích hp trong c hai vụ đông xuân thu, phù hp nhiu vùng đt khác nhau. Giống lúa OM345 có khả năng chống chu đưc bnh cháy bìa lá  cấp 1, chống chu bnh vàng lùn và lùn xon lá ở mức độ trung bình khá, hơi nhim đo ôn (cp 3-5). Giống lúa OM345 phù hp cho vùng như An Giang, Hu Giang, Long An, Cn Thơ và Trà Vinh .

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn – Chuyên đề “Giống cây trồng, vật nuôi”/ 2016, Tập 2, tr.16-22

3. Sinh trưởng, phát triển và năng suất một số giống lúa thuần tại Quảng Ngãi/ Lê Như Cương, Bùi Thị Phương Ngân, Trần Văn Mạnh

Tóm tắt: Giống lúa thun đưc s dụng phổ biến trong sn xut phù hp vi khả năng đu tư của tt c ngưi dân min Trung. Nhm lựa chọn đưc giống lúa phù hp vi điu kin sinh thái của min Trung, một số giống lúa thun (HV5, HQ184, HQ7, VS8, Bc ơng 9, QNg15 và giống lúa đối chứng là HT1) đưc đánh giá nhm m ra ging có khả năng sinh trưng, phát trin tt, cho năng sut phm cht tốt làm cơ sở bổ sung vào cơ cu giống lúa. Thí nghim đưc tiến hành trong vụ đông xuân năm 2014-2015 vụ thu năm 2015 ti Trạm Kho nghim Hu kim giống cây trng n Tnh, tỉnh Qung Ngãi. Kết quả nghiên cứu cho thy, trong vụ đông xuân, các ging lúa đu cho năng sut cao hơn đối chứng t 11,0 đến 27,6%. Trong đó ging Bắc Hương 9 cho năng sut cao hơn đối chứng 27,6%; trong vụ thu, các ging HV15, HQ184 và HQ7 cho năng sut cao hơn đối chứng t 2,1 đến 14,9%.

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn – Chuyên đề “Giống cây trồng, vật nuôi”/ 2016, Tập 2, tr.23-29

4. Kết quả nghiên cứu tạo chọn và cải tiến giống lúa nếp Phú Quí/ Nguyễn Minh Công, Nguyễn Văn Tiếp, Đào Xuân Tân, Lê Xuân Trình

Tóm tắt: Năm 1992, chiếu x tia gamma (Co60) vi liu lưng 100 150 Gy vào ht lúa nếp TK90 thi đim ny mm khong 69-72 h, đã to ra đưc nhiu dòng đột biến, trong đó có dòng ưu tú nht (TK106). Tiếp tục đánh giá chn lọc qua nhiu thế hệ đã to đưc ging lúa nếp mới khu vực hóa năm 2002 (nay gọi là ging công nhn tm thời) mang tên nếp thơm TK106. Giống lúa này còn mang một số nhưc đim nên đã đưc tiếp tục chọn lc, duy trì hoàn thin qua nhiu năm đổi tên thành nếp Phu Thê. Khi đươc công nhn là ging Quc gia năm 2014, nếp Phu Thê li đưc đổi tên là nếp P Quý. Giống nếp P Quý có y còn hơi cao (trung bình 120 125 cm), thuộc nhóm ging có thi gian sinh trưng trung bình. vy, đã tiếp tục chiếu x vi phương thức như tn đã to đưc nhiu dòng đột biến ưu tú, có ý nghĩa cải tiến ging.

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn – Chuyên đề “Giống cây trồng, vật nuôi”/ 2016, Tập 2, tr.30-36

5. Khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lúa kháng rầy lưng trắng tại tỉnh Thừa Thiên - Huế/ Trần Thị Hoàng Đông, Trần Đăng Hòa

Tóm tắt: Nghiên cứu nhm tuyn chọn một số ging lúa kháng ry lưng trắng (RLT) (Sogatella furcifera Horvath)  thích nghi vi điu kin sinh thái ti Thừa Thiên - Huế. Thí nghim đưc tiến hành vi 6 giống lúa kháng RLT (KR1, OM4900, OM7347, HP10, ĐT34 và PC6) và 02 ging đối chứng gồm TN1 (giống chun nhim ry) HT1 (ging lúa cht lưng đưc sử dụng phổ biến ti Thừa Thiên - Huế), bố trí theo khối ngu nhiên hoàn toàn (RCBD), 3 ln nhc li trong vụ   thu 2014 đông xuân 2014 - 2015 ti phưng Hương Xuân và phưng ơng An, thị xã ơng T, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Kết qu nghiên cứu cho thy các ging đu là ging ngn ngày (TGST 96 - 126 ngày), chiu cao cây trung bình (85,66 108,13 cm) kh năng đẻ nhánh tốt (> 20 nhánh/khóm).

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn – Chuyên đề “Giống cây trồng, vật nuôi”/ 2016, Tập 2, tr.37-42

6. Một số kết quả cải tiến giống lúa nếp cái hoa vàng nhờ chiếu xạ tia gamma (Co60) vào hạt nảy mầm/ Nguyễn Văn Tiếp, Nguyễn Minh Công, Nguyễn Xuân Dũng, Nguyễn Thị Sen, Nguyễn Thị Hồng Liên

Tóm tắt: Xử lí bng tia Gamma (Co60), lên ht ny mm thi đim 69 72 h (kể từ khi ngâm ht) của ging lúa nếp Cái hoa vàng vi các liu x 10 15 krad. Tiến hành chọn lọc liên tục t M1 đến M5 đã thu đưc một số ng đột biến có giá tr cải tiến ging. Mỗi dòng đột biến có giá tr khác nhau trong vic cải tiến ging nếp Cái hoa vàng như: mt cảm ứng quang chu k (có thể gieo cy 2 vụ/năm), thp cây chống đổ tt, rút ngn thi gian sinh trưng, tăng số ht tn bông,…

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn – Chuyên đề “Giống cây trồng, vật nuôi”/ 2016, Tập 2, tr.43-49

7. Sinh trưởng, phát triển và năng suất một số giống lúa lai tại Quảng Ngãi/ Lê Như Cương, Võ Văn Vinh, Trần Văn Mạnh

Tóm tắt: Trong nghiên cứu này, 8 giống lúa lai mới (Swift vàng, Syn NĐ 93, CNG 600, SUT89, KC06-1, KC06-5, B013, HB 02) và một giống đối chứng Nhị ưu 838 được đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất tại Quảng Ngãi nhằm tìm kiếm giống lúa phù hợp với điều kiện Quảng Ngãi. Thí nghiệm được tiến hành trong vụ đông xuân năm 2014-2015 và hè thu 2015 ở Quảng Ngãi. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong vụ đông xuân các giống có thời gian sinh trưởng dài hơn đối chứng từ 6 đến 7 ngày, giống HB 02 ngắn hơn đối chứng 10 ngày; trong vụ hè thu các giống lúa đều có thời gian sinh trưởng tương đương hoặc ngắn hơn giống đối chứng, giống HB 02 ngắn hơn đối  chứng 13 ngày. Các giống có khả năng sinh trưởng tốt, khả năng chống chịu với một số sâu bệnh hại quan trọng cao.

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn – Chuyên đề “Giống cây trồng, vật nuôi”/ 2016, Tập 2, tr.50-58

8. Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số tổ hợp ngô lai tại thành phố Yên Bái/ Trần Trung Kiên, Nguyễn Xuân Thắng, Nguyễn Ngọc Hải, Phan Thị Thu Hằng

Tóm tắt: Nghiên cứu được tiến hành trong vụ hè thu 2015 và vụ xuân 2016 tại thành phố Yên Bái, gồm 6 tổ hợp ngô lai (H0271, H7142, H7154, H41142, H65675, VS686) và giống đối chứng là DK6919. Kết quả thí nghiệm cho thấy: Các tổ hợp ngô lai có thời gian sinh trưởng từ 95 - 96 ngày ở vụ hè thu 2015, từ 101- 104 ngày vụ xuân 2016, đều thuộc nhóm có thời gian sinh trưởng trung ngày phù hợp với công thức luân canh tại Yên Bái.

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn – Chuyên đề “Giống cây trồng, vật nuôi”/ 2016, Tập 2, tr.59-64

9. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô lai mới tại Bắc Kạn/ Trần Trung Kiên, Hoàng Thị Bích Thảo, Phan Thị Thu Hằng, Hoàng Ngọc Hoan

Tóm tắt: Thí nghiệm được tiến hành trong vụ thu đông 2015 và vụ xuân 2016 tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, gồm 7 giống ngô lai mới: H119, VS71, BM262, LVN255, LVN883, LVN111, LVN17 do Viện Nghiên cứu Ngô chọn tạo và 1 giống đối chứng - Bioseed 9698. Kết quả khảo nghiệm cho thấy: Các giống  ngô thí nghiệm có thời gian sinh trưởng biến động từ 94 - 95 ngày (vụ thu đông 2015) và từ 106 - 113 ngày (vụ xuân 2016), thuộc nhóm chín trung bình. Các giống ngô tham gia thí nghiệm có các đặc điểm hình thái tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh hại khá. Năng suất lý thuyết của các giống ngô thí nghiệm dao động từ 69,2 - 94,4 tạ/ha (vụ thu đông 2015) và từ 67,0 - 100,2 tạ/ha (vụ xuân 2016).

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn – Chuyên đề “Giống cây trồng, vật nuôi”/ 2016, Tập 2, tr.65-70

10. Đánh giá sự đa dạng của tập đoàn giống ngô nếp địa phương tại Thừa Thiên - Huế/ Phan Thị Phương Nhi, Nguyễn Thị Năm

Tóm tắt: Trong nghiên cứu này, 17 giống ngô nếp địa phương đã được thu thập để tiến hành nghiên cứu về tình hình sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu, năng suất, phẩm chất và phân tích sự đa dạng di truyền dựa trên 26 tính trạng hình thái của tập đoàn giống ngô nếp địa phương. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp tuần tự thứ tự không nhắc lại, mỗi giống là một công thức. Kết quả cho thấy tập đoàn giống ngô nếp địa phương gồm 9 giống nếp trắng (Var. alboceratina Kulesh et Kozhuh), 6 giống nếp vàng (Var. luteoceratina Kulesh et Kozhuh) và 2 giống nếp tím (Var. rubroceratina Kulesh et Kozhuh). Thời gian sinh trưởng được chia làm ba nhóm: nhóm chín cực sớm (< 85 ngày) có 1 giống, nhóm chín sớm (86-90 ngày) có 7 giống, nhóm chín trung bình (91-115 ngày) có 9 giống.

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn – Chuyên đề “Giống cây trồng, vật nuôi”/ 2016, Tập 2, tr.71-78

11. Đánh giá khả năng thích nghi và độ ổn định năng suất của một số giống ngô lai tại Quảng Ngãi/ Lê Thị Cúc, Nguyễn Thị Mơ, Trần Văn Minh, Phạm Đồng Quảng

Tóm tắt: Mục tiêu nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng thích nghi và ổn định năng suất của một số giống ngô lai mới trung ngày tại tỉnh Quảng Ngãi. Kết quả nghiên cứu được thực hiện liên tục trong 3 vụ (hè thu 2014, đông xuân 2014- 2015 và hè thu 2015) tại 3 điểm (Sơn Tịnh, Nghĩa Hành và Sơn Hà của tỉnh Quảng Ngãi) cho thấy: tất cả 9 giống ngô lai thuộc nhóm giống trung ngày,  thời gian sinh trưởng vụ hè thu dao động 93-98 ngày và ở vụ đông xuân 100- 106 ngày, phù hợp với cơ cấu mùa vụ tại tỉnh Quảng Ngãi.

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn – Chuyên đề “Giống cây trồng, vật nuôi”/ 2016, Tập 2, tr.79-86

12. Kết quả bước đầu tuyển chọn giống khoai lang mới từ nguồn vật liệu nhập nội/ Vũ Văn Định, Nguyễn Công Tạn,  Nguyễn Trí Ngọc

Tóm tắt: Thông qua quá trình thu thập các dòng giống khoai lang khác nhau và tiến  hành trồng khảo nghiệm 5 giống khoai lang tại 3 tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình và Hưng Yên trong vụ thu đông năm 2014 và xuân hè năm 2015 với định hướng tìm ra các giống khoai lang theo hướng phục vụ chế biến thực phẩm và ăn tươi, kết quả cho thấy: đã chọn được hai giống khoai lang KHT1 và KJT14 có ưu điểm sinh trưởng, phát triển nhanh, chống chịu sâu bệnh hại khá, hình thành củ sớm, củ phát triển nhanh, tỷ lệ củ thương phẩm cao, về năng suất củ tươi vụ  thu đông và xuân hè giống KHT1 lần lượt đạt 24,54 tấn/ha và 25,53 tấn/ha và giống KJT14 đạt 24,13 tấn/ha và 24,98 tấn/ha; hàm lượng chất khô giống KHT1 của vụ thu đông và xuân hè lần lượt đạt 30,1% và 32,9%; giống KJT14 lần lượt đạt 29,6% và 31,3%.

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn – Chuyên đề “Giống cây trồng, vật nuôi”/ 2016, Tập 2, tr.87-94

13. Nghiên cứu lựa chọn giống khoai lang phục vụ sản xuất hàng hóa tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên/ Nguyễn Thị Lân, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Viết Hưng

Tóm tắt: Với mục đích lựa chọn 1 – 2 giống khoai lang phục vụ sản xuất hàng hóa ở  tỉnh Thái Nguyên, thí nghiệm được thực hiện tại khu Nghiên cứu Cây trồng cạn, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên với 10 công thức (10 giống khoai lang) được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ, nhắc lại 3 lần. Kết quả thí nghiệm cho thấy: Các giống khoai lang thí nghiệm có thời gian  sinh trưởng 100 – 115 ngày (vụ xuân), 95 – 110 (vụ đông), phù hợp với cơ cấu cây trồng  tại tỉnh Thái Nguyên. Hầu hết các giống khoai lang bị nhiễm nhẹ sâu đục dây; giống KLC266, KLC268, Hàn Quốc, Nhật tím và Hoàng Long bị nhiễm nhẹ bọ hà; giống KLC266 và Hàn Quốc bi bệnh xoăn lá rất nặng.

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn – Chuyên đề “Giống cây trồng, vật nuôi”/ 2016, Tập 2, tr.95-102

14. Kết quả ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn tạo giống khoai lang có hàm lượng tinh bột cao/ Ngô Doãn Đảm, Dương Xuân Tú, Nguyễn Đạt Thoại, Trần Quốc Anh, Nguyễn Thị Thúy Hoài, Lê Thị Thanh, Trương Công Tuyện

Tóm tắt: Trong khuôn khổ đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống khoai lang có hàm lượng tinh bột cao bằng chỉ thị phân tử cho các tỉnh phía Bắc, giai đoạn 2012 - 2015”, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã ứng dụng 4 chỉ thị phân tử ITSSR8, ITSSR15, IbE29 IbY47 để sàng lọc kiểu gien liên quan đến hàm lượng tinh bột cao trên nguồn vật liệu gồm 914 dòng thuộc 41 tổ hợp lai đơn kết hợp chọn lọc kiểu hình trong điều kiện đồng ruộng; so sánh, khảo nghiệm cơ bản các dòng triển vọng tại 5 tỉnh phía Bắc. Kết quả đã chọn được 2 giống khoai lang triển vọng VC6 VC7 có mang kiểu gien tính trạng hàm lượng  tinh bột cao trong củ bằng chỉ thị phân tử; trong đó giống VC6 được nhận dạng bằng 2 chỉ thị ITSSR15 và IbE29; giống VC7 được nhận dạng bằng chỉ thị IbY47.

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn – Chuyên đề “Giống cây trồng, vật nuôi”/ 2016, Tập 2, tr.103-112

Tổng hợp: Phan Hữu Nghị