Đồng bằng sông Cửu Long được biết đến là vùng đất màu mỡ và có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, các hình thức sản xuất của người dân ở đây còn mang tính cá thể và thủ công. Hiện nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự quan tâm đầu tư của các cơ quan có thẩm quyền, nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp mới đã ra đời và được người dân áp dụng khá thành công, giúp tăng năng suất lao động và tăng sản lượng. Các mô hình này hiện đang được nhân rộng và được bà con nông dân rất nhiệt tình tham gia ứng dụng.
Sau đây, Thư viện xin giới thiệu đến quý bạn đọc các mô hình sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao của vùng Đồng bằng sông Cửu Long qua các nghiên cứu được tổng hợp từ các tạp chí, báo, kỷ yếu.

TÀI LIỆU IN CÓ TẠI THƯ VIỆN (Bản in được lưu tại Tầng 4)

1. Đánh giá hiệu quả mô hình sản xuất lúa truyền thống và cánh đồng lớn tại thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng / Nguyễn Thị Mỹ Linh, Lê Phan Đình Huấn, Huỳnh Văn Phụng, Phan Kỳ Trung, Nguyễn Văn Bé và Văn Phạm Đăng Trí

Tóm tắt: Sóc Trăng là một trong những tỉnh sản xuất nông nghiệp trọng điểm ở Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó canh tác lúa là mô hình phổ biến nhất. Thêm vào đó, sản xuất nông nghiệp với mục tiêu phát triển kinh tế là chính nên quyết định lựa chọn mô hình sản xuất nông nghiệp phù hợp với khu vực là một yêu cầu rất cần thiết và quan trọng. Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ngoài mục tiêu phát triển kinh tế nên xem xét đến mục tiêu xã hội và môi trường nhằm hướng đến nền nông nghiệp phát triển bền vững. Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm: (i) đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của hai mô hình sản xuất lúa: cánh đồng lớn và truyền thống và (ii) phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của các mô hình canh tác lúa tại thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích, chuẩn hóa số liệu, thang đo Likert, tiếp cận giá trị mong đợi để phân tích và tổng hợp các số liệu được phỏng vấn từ nông hộ. Các chỉ tiêu dựa trên các tiêu chí đánh giá đất đai của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (2007) và các nghiên cứu đã được thực hiện ở Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả cho thấy mô hình cánh đồng lớn cho tổng số điểm 3 mục tiêu (kinh tế, xã hội và môi trường) lớn hơn mô hình truyền thống với số điểm lần lượt là 0,99 và 0,73. Nhìn chung, cánh đồng lớn đã khẳng định là một phương thức sản xuất lúa tiên tiến góp phần tạo động lực cho sự phát triển nông nghiệp cho thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2017, Số chuyên đề: Môi trường và Biến đổi khí hậu, tr.45-54

2. Phân tích hiệu quả kỹ thuật của nông hộ sản xuất cam sành ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang / Trần Thụy Ái Đông, Quan Minh Nhựt và Thạch Kim Khánh

Tóm tắt: Bài viết tập trung ước lượng hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả theo quy mô và phân tích các yếu tố đến hiệu quả kỹ thuật của nông hộ sản xuất cam sành ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Số liệu sơ cấp của đề tài được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 60 nông hộ sản xuất cam sành. Phương pháp phân tích màng bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis) được sử dụng để ước lượng hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả theo quy mô. Kết quả cho thấy, hiệu quả kỹ thuật trung bình của các hộ sản xuất cam sành là 0,616 và hiệu quả theo quy mô trung bình là 0,686. Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Tobit cũng cho biết, các yếu tố như tín dụng, trồng xen đóng góp tích cực vào việc cải thiện hiệu quả kỹ thuật của hộ và yếu tố tham gia hiệp hội làm hạn chế khả năng cải thiện hiệu quả kỹ thuật của nông hộ trồng cam sành ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2017, số 48D, tr.112-119

3. Phân tích hiệu quả tài chính của nông hộ trồng ớt vùng Đồng bằng sông Cửu Long / Nguyễn Thị Thu An; Võ Thị Thanh Lộc

Tóm tắt: Hiệu quả tài chính của hoạt động trồng ớt là khá cao với tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí là 135 phần trăm, có 5 yếu tố liên quan đến khâu sản xuất ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của nông dân trồng ớt, trong đó có 3 yếu tố tác động tích cực đó là năng suất, tham gia Hợp tác xã/Tổ hợp tác, tập huấn kỹ thuật và hai yếu tố tác động tiêu cực bao gồm chi phí đầu vào và chi phí tăng thêm. Để nâng cao hiệu quả tài chính của hộ trồng ớt cần cải thiện năng suất ớt và giảm chi phí đầu vào; củng cố hoạt động của các Hợp tác xã/ Tổ hợp tác; và duy trì hoạt động tập huấn kỹ thuật trồng ớt cho nông dân.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2017, số 48D, tr.87-95

4. Đánh giá hiệu quả nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh theo các hình thức tổ chức ở Đồng bằng sông Cửu Long/ Đỗ Minh Vạnh, Trần Ngọc Hải, Trần Hoàng Tuân, Trương Hoàng Minh

Tóm tắt: Nghiên cứu này đã được thực hiện từ tháng 9/2014-2/2015, thông qua việc khảo sát 90 nông hộ nuôi tôm thẻ chân trắng nhỏ lẻ (NH), 12 tổ hợp tác (THT) 12 trang trại (TT) và 12 công ty (CT) bằng bảng câu hỏi được soạn sẵn. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng diện tích của NH (ha/hộ) và số ao nuôi (ao/hộ) tương ứng là 4,6 và 4,9 thấp hơn THT (32,4; 30,3), TT (15,1; 13,1 ) vàCT (92,9; 83,7). Mật độ nuôi, tỷ lệ sống, thời gian nuôi và kích cỡ tôm thu hoạch ở hình thức CT đạt cao nhất kế đến là TT, THT, NH, tương ứng năng suất tôm nuôi lần lượt là 13,9; 10,6; 10,9 và 8,37 tấn/ha/vụ. Giá thành sản xuất thấp nhất ở hình thức TT và cao nhất là CT, dao động 67,5-73,9 ngàn đồng/kg. Lợi nhuận (tr.đ/ha/vụ) của các hình thức nuôi là khá cao, lần lượt là NH (596), THT (692), TT (696) và CT (1.038), tương ứng với tỷ suất lợi nhuận lần lượt là 1,0; 0,85; 1,03 và 1,04 lần. Tỷ lệ sinh lời trong nghiên cứu này là rất cao, trừ hình thức NH có 6% hộ lỗ. Mức an toàn sinh học và hoạt động nâng cao năng lực người nuôi ở CT được quan tâm hơn so với các hình thức còn lại.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2016, số 42, tr.50-57

5. Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá lóc đen và nhận thức của người nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long / Ngô Thị Minh Thúy, Trương Đông Lộc

Tóm tắt: Thông qua số liệu điều tra trực tiếp từ 205 hộ ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nuôi cá lóc đen theo hai mô hình và áp dụng mô hình hồi qui tuyến tính cho thấy, các nhân tố tác động đến lợi nhuận trung bình của hộ nuôi là: mật độ thả giống, số vụ nuôi, giá bán, vùng nuôi cá lóc, hệ số thức ăn, giá thức ăn, giá thuốc phòng trị bệnh và mô hình nuôi cá lóc. Kết quả nghiên cứu thu được: Lợi nhuận của nông hộ nuôi cá lóc trung bình đạt 846,7 ngàn đồng/m3/vụ, cao nhất là mô hình nuôi vèo đạt đến 1.384,1 ngàn đồng/m3/vụ, nuôi ao thu được lợi nhuận thấp hơn chỉ đạt 409,2 ngàn đồng/m3/vụ. Trung bình các nông hộ bỏ ra một đồng chi phí nuôi cá thì thu được 1,52 đồng lợi nhuận. Từ kết quả phân tích, tác giả đề xuất một số giải pháp cơ bản cho sự phát triển của ngành hàng cá lóc ở ĐBSCL.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2015, số 36, tr.108-115

6. Hiệu quả kinh tế mô hình sản xuất lúa 1 phải 5 giảm của hai nhóm hộ trong và ngoài hợp tác xã ở Kiên Giang và An Giang / Nguyễn Hồng Tín; Lê Thị Cẩm Hương; Nguyễn Ngọc Sơn; Nguyễn Văn Sánh; Châu Mỹ Duyên

Tóm tắt: Kỹ thuật một phải năm giảm (1P5G) trong canh tác lúa được công nhận là một tiến bộ khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên, hiệu quả của việc ứng dụng và mở rộng kỹ thuật này thay đổi rất khác nhau và tùy thuộc vào nhiều yếu tố như quản lý nước, kỹ thuật canh tác, quản lý đồng ruộng. Trong số đó, hình thức tổ chức sản xuất là một yếu tố rất quan trọng tác động trực tiếp lên hiệu quả của kỹ thuật 1P5G. Bài viết này phân tích và so sánh hiệu quả kinh tế của nông dân sản xuất lúa 1P5G theo hai hình thức tổ chức sản xuất khác nhau, sản xuất riêng lẻ và sản xuất tập thể (HTX). Kết quả nghiên cứu cho thấy hình thức tổ chức sản xuất HTX giúp kỹ thuật 1P5G phát huy hiệu quả, giúp nông dân giảm chi phí sản xuất. Tuy nhiên, hiệu quả của kỹ thuật này tùy thuộc vào những điều kiện canh tác khác nhau của mỗi địa phương. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở cho việc qui hoạch, phát triển và nhân rộng mô hình 1P5G nhằm giảm chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận cho nông dân trồng lúa.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2015, số 37B, tr.76-85

7. Phân tích khía cạnh kỹ thuật và hiệu quả tài chính của mô hình nuôi cá bống tượng (Oxyeleotris marmoratus) trong ao ở tỉnh Cà Mau / Lê Quốc Việt; Trần Ngọc Hải; Nguyễn Anh Tuấn

Tóm tắt: Khảo sát này được thực hiện trên 30 hộ nuôi ở các xã thuộc thành Phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau được thực hiện từ tháng 3 - 5/2013. Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá một số yếu tố kỹ thuật và tài chính của mô hình để làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nuôi cá bống tượng trong ao đất ở Cà Mau nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Tổng số 30 nông hộ nuôi cá bống tượng ở thành phố Cà Mau đã được phỏng vấn từ tháng 3 đến tháng 5/2012. Kết quả cho thấy diện tích trung bình của các ao nuôi là 1.002 m2/hộ (biến động từ 108 - 4.000 m2). Mật độ nuôi dao động từ 0,8 - 2,0 con/m2 và cá giống có khối lượng 83 - 250 g/con. Trung bình sau 9 tháng nuôi, cá đạt kích cỡ 0,7 kg/con và tỉ lệ sống 72,1%. Năng suất trung bình đạt 69,1 kg/100 m2 và hệ số thức ăn là 6,9±2,1. Tính trên diện tích nuôi 100 m2, mô hình nuôi cá bống tượng có tổng chi phí bình quân là 9.801.597 đồng/vụ, lợi nhuận trung bình 18.225.263 đồng/vụ với tỷ suất lợi nhuận đạt cao(2,0). Nhìn chung, mô hình nuôi này lợi nhuận khá cao, do đó có thể nhân rộng ở Cà Mau nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2014, số 34, tr.84-91

8. Đánh giá hiệu quả tài chính của hai mô hình sản xuất xoài cát ở tỉnh Đồng Tháp / Dương Ngọc Thành, Nguyễn Vũ Phong

Tóm tắt: Bài nghiên cứu sử dụng số liệu từ cuộc phỏng vấn 200 nông dân trồng xoài tại tỉnh Đồng Tháp, trong đó có 134 nông hộ trồng xoài theo mô hình truyền thống và 66 nông hộ trồng xoài của mô hình tiêu chuẩn GAP (Thực hành nông nghiệp tốt). Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả tài chính của hai mô hình sản xuất xoài theo GAP và truyền thống, và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cho nông dân trồng xoài tại tỉnh Đồng Tháp. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sản xuất xoài theo mô hình tiêu chuẩn GAP có doanh thu, lợi nhuận và chỉ số tài chính có hiệu quả cao hơn so với mô hình sản xuất xoài truyền thống. Thông qua phân tích mô hình hồi quy đa biến, sản xuất xoài của nông dân bị tác động bởi các yếu tố: chi phí đầu tư, diện tích xoài, số ngày công lao động gia đình, mật độ trồng, sử dụng bao trái. Nghiên cứu cũng đề xuất 2 nhóm giải pháp: nhóm (i) các giải pháp phát triển sản xuất, và (ii) giải pháp nhóm tiêu thụ sản phẩm để nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ xoài của nông dân.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2014, số 33, tr.1-10

9. Phân tích hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng sen trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp / Nguyễn Văn Tiển, Phạm Lê Thông

Tóm tắt: Kết quả nghiên cứu của đề tài dựa trên số liệu thu thập từ 120 nông hộ trồng sen ở tỉnh Đồng Tháp. Năng suất trung bình của vụ 1 là 4.183 kg/ha và vụ 2 là 3.683 kg/ha. Mức thu nhập bình quân vụ 1 là 20.540 ngàn đồng/ha và vụ 2 là 54.088 ngàn đồng/ha. Sự chênh lệch lớn này chủ yếu do chênh lệch giá đầu ra giữa 2 vụ. Tỷ số doanh thu trên chi phí của vụ 1 là 3,34 và của vụ 2 là 7,35. Kết quả ước lượng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên cho thấy các yếu tố sản xuất ảnh hưởng đến năng suất sen của hai vụ là lượng giống, phân đạm, phân lân, phân kali, thuốc bảo vệ thực vật và lao động gia đình. Mức hiệu quả kỹ thuật đạt được ở vụ 1 là 86,81% và ở vụ 2 là 85,33%. Mức kém hiệu quả do chưa đạt hiệu quả tối đa gây thất thoát trong vụ 1 khoảng 1.280 kg/ha và trong vụ 2 khoảng 1.027 kg/ha. Mức hiệu quả kinh tế đạt được ở vụ 1 là 82,18%, còn ở vụ 2 là 82,99%. Mức kém hiệu quả do chưa đạt hiệu quả kinh tế gây thất thoát trong vụ 1 là 5.665 ngàn đồng/ha còn trong vụ 2 là 13.891 ngàn đồng/ha. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của nông hộ gồm vốn vay, trình độ học vấn và diện tích gieo trồng sen của nông hộ.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2014, số 30, tr.120-128

10. Hiệu quả tài chính của mô hình trồng thanh long ở huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang / Nguyễn Quốc Nghi; Lê Thị Diệu Hiền; Nguyễn Ngọc Minh 
Tóm tắt: Bài viết phân tích và trình bày kết quả nghiên cứu hiệu quả tài chính của mô hình trồng thanh long ở huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Trong đó, tác giả phân tích rõ đặc điểm nông hộ trồng thanh long, thực trạng rủi ro nông nghiệp, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của mô hình trồng thanh long.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ An Giang/ 2014, số 3, tr.27-30

11. Hiệu quả mô hình chăn nuôi gà ác theo ảnh hưởng an toàn sinh học tại Tiền Giang và vùng phụ cận / Trần Văn Lên; Bùi Thị Kim Dung; Nguyễn Trung Trực

Tóm tắt: Đề tài “Xây dựng mô hình chăn nuôi gà ác ở quy mô nông hộ theo hướng an toàn sinh học ở Tiền Giang và vùng phụ cận” được tiến hành từ tháng 04/2012 đến tháng 04/2013. Mục tiêu của đề tài là xây dựng mô hình chăn nuôi gà ác theo hướng an toàn sinh học để chuyển giao cho các hộ nông dân trên địa bàn. Đã triển khai tập huấn cho 60 hộ nông dân và đã chọn 8 hộ tham gia mô hình chăn nuôi gà ác đẻ trứng thương phẩm theo hướng an toàn sinh học với quy mô 1000-2000 con/hộ trên địa bàn tỉnh Tiền Giang và Long An, Bến Tre.

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn/ 2014, số 19, tr.70-77

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ
- Địa chỉ truy cập: http://lhtv.vista.vn/  (Chọn STD-Tài liệu KH&CN Việt Nam)
- Lưu ý: Bạn đọc vui lòng truy cập theo hệ thống mạng nội bộ của Trường Đại học An Giang để đọc và download toàn văn tài liệu.

12. Đánh giá hiệu quả kinh tế từ mô hình sản xuất lúa giống tại Đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung Việt Nam / Phạm Ngọc Nhàn

Tóm tắt: Dự án "Tăng cường hợp tác nông dân trong nghiên cứu nông nghiệp và khuyến nông (gọi tắt là Dự án Fares)- việt Nam giai đoạn 2011-2014" đã được áp dụng từ năm 2011 đến năm 2014. Dự án nhằm mục đích nâng cao năng lực của nông dân trong sản xuất lúa giống cho nông dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung nhờ vào sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Trong nghiên cứu này, tác giải tập trung phân tích hiệu quả kinh tế trong mô hình sản xuất lúa giống của nông dân trước và sau khi tham gia dự án. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng sau khi áp dụng mô hình sản xuất lúa giống, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 19,9 phần trăm xuống còn 5,4 phần trăm, hộ gia đình khá và giàu tăng lần lượt từ 21,2 phần trăm lên 375, phần trăm và từ 0,5 phần trăm lên 3,9 phần trăm. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng lợi nhuận đối với nông dân tham gia mô hình (20,4 triều đông/ha/vụ) cao hơn đối với nông dân không tham gia mô hình (18,9 triệu đồng/ha/vụ).

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Tây Nguyên / 2016, số 16, tr.77-82

13. Khía cạnh kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm - rừng ở huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau / Lê Quốc Việt; Trần Ngọc Hải

Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 08 -12/2014, số liệu được thu bằng cách phỏng vấn trực tiếp 37 hộ nuôi tôm – rừng ở huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Mục tiêu nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của mô hình nuôi. Kết quả cho thấy, diện tích trung bình của các hộ nuôi 2,1 ha, rừng chiếm tỷ lệ 35,9%, mương bao quanh 28,6%, độ sâu mực nước ở mương 1,3 m và trảng là 0,5 m. Tuổi cây rừng dao động từ 2 – 17 năm và trung bình là 6,7 năm. Số lần thả tôm giống và cua trong năm lần lượt là 4,7 và 5,2 lần; tương ứng với mật độ tôm là 16,8 con/m2 và cua là 0,6 con/m2. Tỷ lệ sống trung bình của tôm sú 1,3% và cua là 3,8%. Năng suất trung bình của tôm sú, cua, tôm tự nhiên và cá lần lượt là: 214,4; 61,2; 89,4 và 70,9 kg/ha/năm. Trung bình tổng chi phí của mô hình nuôi 23,9 triệu đồng/ha/năm; tổng thu nhập bình quân 86,3 triệu đồng/ha/năm; lợi nhuận đạt 62,3 triệu đồng/ha/năm và tỷ suất lợi nhuận tương ứng là 2,9. Bên cạnh đó, các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất tôm nuôi gồm: tỷ lệ sống, số lần thả, tuổi cây rừng và độ sâu mực nước của mương. Các mô hình nuôi có cây rừng lớn hơn 9 năm tuổi cho lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận thấp hơn so với các tuổi cây rừng có tuổi nhỏ hơn. Ngoài ra, lợi nhuận còn ảnh hưởng bởi năng suất tôm sú, cua, cá, mật độ tôm và mật độ cua nuôi.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển / 2016, số 12, tr.99-105

14. Hiệu quả tài chính mô hình nuôi tôm sú bán thâm canh của nông hộ ở huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng / Bùi Văn Trịnh; Nguyễn Quốc Nghi

Tóm tắt: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm sú bán thâm canh (BTC) của nông hộ ở huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Số liệu sơ cấp được thu thập từ 100 hộ nuôi tôm BTC trên địa bàn nghiên cứu. Các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu là thống kê mô tả và phân tích các tỷ số tài chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy, với chi phí đầu tư trung bình là 19,8 triệu đồng/1000m2/vụ thì nông hộ sẽ thu được lợi nhuận là 6,5 triệu đồng/1000m2/vụ và tỷ suất lợi nhuận đạt được là 0,25 lần. Như vậy, mô hình nuôi tôm sú BTC ở huyện Mỹ Xuyên có hiệu quả tài chính khá tốt, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho nông hộ nuôi tôm sú trên địa bàn huyện.

Nguồn trích: Thông tin Khoa học – Giáo dục (Đại học Bạc Liêu)/ 2015, số 19, tr.70-75

15. Phân tích hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi tôm sú - cua biển ở xã Hòa Minh, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh / Nguyễn Quốc Nghi; Trần Thị Diễm Cần; Phạm Huy

Tóm tắt: Dựa vào dữ liệu thu thập từ 98 nông hộ nuôi tôm sú–cua biển trên địa bàn xã Hòa Minh, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, phương pháp phân tích màng bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) được sử dụng để đo lường hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối nguồn lực và hiệu quả sử dụng chi phí của nông hộ nuôi tôm sú– cua biển. Kết quả phân tích cho thấy, hiệu quả sản xuất của các hộ nuôi tôm sú – cua biển không cao. Các hộ nuôi tôm sú – cua biển đạt hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối nguồn lực ở mức trung bình với các giá trị lần lượt là 0,68 và 0,62. Trong khi đó, hiệu quả sử dụng chi phí khá thấp với giá trị đạt được là 0,41. Nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của mô hình tôm sú-cua biểu trong tương lai, nghiên cứu đề xuất nông hộ cần kiểm soát chi phí sản xuất tốt hơn bằng cách giảm thiểu nhập lượng các yếu tố đầu vào: con giống, thức ăn, thuốc, công lao động, công máy móc và lượng nhiên liệu. Hầu hết, các yếu tố đều phải điều chỉnh mức giảm liều lượng từ 50% so với mức sử dụng hiện tại của nông hộ.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp/ 2015, số 3, tr.132-137

 

 

Tổng hợp: Phan Hữu Nghị