An toàn thực phẩm là một trong những vấn đề luôn được quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Hiện nay, việc sử dụng những hoá chất cấm  dùng trong nuôi trồng, chế biến nông, thủy sản, thực phẩm; việc sản xuất  các sản phẩm kém chất lượng hoặc do quy trình chế biến hoặc do nhiễm độc từ  môi trường, hàng giả, hàng nhái,… diễn ra rất phức tạp và khó kiểm soát.

Để giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này, mời các bạn tham khảo các tài liệu được tổng hợp từ tạp chí, báo, kỷ yếu sau đây.

TÀI LIỆU IN CÓ TẠI THƯ VIỆN (Bản in được lưu tại Tầng 4)

1. Kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm và một số yếu tố liên quan của người kinh doanh thức ăn đường phố tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang năm 2014/ Lê Ngọc Hiệp

Tóm tắt: Tỷ lệ người kinh doanh thức ăn đường phố có kiến thức chưa tốt - trung bình - tốt về vệ sinh an toàn thực phẩm lần lượt là: 34,2 phần trăm - 35,7 phần trăm - 30,1 phần trăm. Tỷ lệ người kinh doanh có thái độ về vệ sinh an toàn thực phẩm là: chưa tốt: 32,8 phần trăm, trung bình: 37,4 phần trăm, tốt: 29,8 phần trăm. Ngoài ra, tỷ lệ người kinh doanh thức ăn đường phố có thực hành chưa tốt, trung bình, tốt lần lượt là: 49,4 phần trăm, 34,7 phần trăm và 15,9 phần trăm. Có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa người có trình độ học vấn khác nhau và những người tiếp xúc với các nguồn thông tin tuyên truyền với tỷ lệ kiến thức, thái độ thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm; giữa người kinh doanh thức ăn đường phố có tỷ lệ kiến thức, thái độ đúng, thực hành đũng về vệ sinh an toàn thực phẩm (p0,05). 

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học An Giang / 2017, Số13, tr.68-78

 2. Thực trạng sử dụng thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học trong cá điêu hồng (Oreochromis sp.) nuôi bè vùng Đồng bằng sông Cửu Long / Trần Minh Phú, Nguyễn Thanh Phương, Đỗ Thị Thanh Hương, Nguyễn Quốc Thịnh, Nguyễn Khánh Nam, Phùng Thị Trúc Hà, Nguyễn Tâm Em

Tóm tắt: Nghiên cứu đánh giá việc sử dụng thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học trong cá điêu hồng nuôi bè được thực hiện thông qua phỏng vấn 86 hộ nuôi ở 4 tỉnh An Giang, Tiền Giang, Đồng Tháp và Vĩnh Long. Kết quả cho thấy các biểu hiện bệnh thường xuất hiện trên cá điêu hồng là bệnh phù đầu, phù mắt và xuất huyết với 81,8 – 100%. Người nuôi thường không biết nguyên nhân gây bệnh nhưng hầu hết dùng kháng sinh để trị bệnh nhiễm khuẩn và sử dụng các hóa chất để quản lý các biểu hiện nhiễm ký sinh trùng. Hầu hết các hộ nuôi không biết về kháng sinh đồ trong điều trị bệnh cá. Các loại kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là sulfonamide kết hợp trimethoprim, amoxicillin, doxycycline  và florfenicol. Cá bán cho các thương lái hay chợ đầu mối thì không cần kiểm tra kháng sinh dẫn đến mối nguy về tồn lưu kháng sinh trong sản phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng nội địa. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần thiết phải tổ chức tập huấn cho người nuôi về chẩn đoán bệnh, sử dụng thuốc và hóa chất đúng cách, an toàn.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2017, số 51, tr.80-87

3. Bước đầu đánh giá về mức độ ô nhiễm vi sinh vật của một số thực phẩm đường phố tại thành phố Cần Thơ/ Tống Thị Ánh Ngọc, Phạm Thị Thu Hồng, Lê Duy Nghĩa, Phan Thị Thanh Quế

Tóm tắt: Thực phẩm đường phố đang trở nên phổ biến ở nước ta vì tính tiện lợi, bắt mắt và rẻ tiền. Tuy nhiên, điều kiện chế biến của người kinh doanh thực phẩm đường phố thường không đảm bảo vệ sinh. Điều này có thể dẫn đến thực phẩm đường phố bị ô nhiễm vi sinh vật và gây ngộ độc thực phẩm. Nghiên cứu này sẽ khảo sát mức độ ô nhiễm vi sinh vật của thực phẩm đường phố ở khu vực thành phố Cần Thơ. Mật số vi sinh vật, nấm mốc và nấm men tổng số được khảo sát trên mẫu bánh mì thịt, bánh tráng trộn, nước mía và nước rau má. Nghiên cứu có kết quả sau: mật số vi sinh vật tổng số hiếu khí đối với nước mía và rau má lần lượt là 5,4 - 7,3 log CFU/mL và 4,4 - 8,1 log CFU/mL; tổng số nấm men, nấm mốc lần lượt là 4,3 - 5,0 log CFU/mL và 2,2 - 4,7 log CFU/mL. Bánh mì thịt có mật số vi sinh vật tổng số hiếu khí dao động từ 6,6 - 7,4 log CFU/g và tổng số nấm men, nấm mốc dao động từ 3,8 - 5,7 log CFU/g. Các mẫu bánh tráng trộn có mật số vi sinh vật hiếu khí dao động từ 4,3 - 5,7 log CFU/g và tổng số nấm men, nấm mốc từ 2,8 - 5,5 log CFU/g. Tất cả các mẫu thực phẩm đường phố trong nghiên cứu này đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y tế. Từ những kết quả bước đầu trên cho thấy mức độ ô nhiễm vi sinh vật của thực phẩm đường phố trên địa bàn thành phố Cần Thơ có thể là một trong những vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm cần được quan tâm, kiểm soát chặt chẽ hơn.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2017, số Nông nghiệp, tr.98-104

4. Khảo sát mức độ vấy nhiễm vi khuẩn trên thịt gia cầm tại cơ sở giết mổ thành phố Trà Vinh/ Trần Duy Khang, Trần Ngọc Bích

Tóm tắt: Chất lượng vệ sinh thịt gia cầm được đánh giá trên cơ sở phân tích các chi tiêu nhiễm vi khuẩn của 80 mẫu khảo sát, bao gồm 24 mẫu thịt gà thu thập từ lò mổ và 56 mẫu môi trường cơ sở giết mổ. Chất lượng thịt gia cầm được đánh giá theo Tiêu Chuẩn Việt Nam 7046:2009 qua các chỉ tiêu vi sinh vật bao gồm tổng số vi khuẩn hiếu khí, Coliforms, Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Clostridium perfringens và Salmonella spp. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vấy nhiễm vi sinh vật của thịt gà là 100% mẫu thịt nhiễm vi khuẩn hiếu khí, 100% mẫu thịt nhiễm Coliforms, 100% mẫu thịt nhiễm Escherichia coli, 100% mẫu thịt nhiễm Staphylococcus aureus, 0% mẫu thịt nhiễm Clostridium perfringens và 16.7% mẫu thịt nhiễm Salmonella spp. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ nhiễm vi sinh vật trên các mẫu môi trường cơ sơ giết mổ là rất cao. Kết quả này cho thấy rằng thịt gà sống thường xuyên bị nhiễm các mầm bệnh gây ngộ độc thực phẩm và là vật lây truyền mầm bệnh gây ngộ độc thực phẩm chủ yếu, do đó cần thiết tăng cường việc áp dụng phương pháp phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn trong cơ sở giết mổ.

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn / 2016, số 42, tr.50-57

5. Sử dụng thuốc và hóa chất trong ao nuôi cá tra (pangasianodon hypophthamus) thâm canh ở Đồng Tháp, Việt Nam/ Le Minh Long CTU, Hans Bix, Ngô Thụy Diễm Trang

Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định loại hóa chất và thuốc được sử dụng trong các ao nuôi cá tra thâm canh ở tỉnh Đồng Tháp, Việt Nam. Hiện trạng sử dụng thuốc và hoá chất được thu thập thông qua phỏng vấn 30 hộ nuôi cá tra ở huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 17 loại hóa chất được sử dụng để xử lý môi trường ao nuôi, 19 sản phẩm thuốc dùng để phòng và trị bệnh cho cá, 18 loại chất bổ sung chất dinh dưỡng và chế phẩm sinh học được sử dụng trong một vụ nuôi. Trong đó có Enrofloxacine là kháng sinh cấm sử dụng được sử dụng phổ biến (70% số hộ khảo sát sử dụng) và 10 loại kháng sinh hạn chế sử dụng trong nuôi trồng thủy sản theo TT 03/2012/BNNPTNT như amoxicilin, trimethoprime, ciprofloxacin, oxytetracycline, florfenicol,... cũng được sử dụng rộng rãi. Nguồn gốc và liều lượng sử dụng thuốc chưa được kiểm soát chặt chẽ và thường được sử dụng liều lượng cao hơn so với hướng dẫn dựa vào kinh nghiệm của cá nhân người nuôi. Điều này có thể dẫn đến phát sinh nhiều bệnh trên cá và khả năng kháng các loại kháng sinh của cá. Ngoài ra, kết quả ghi nhận, chi phí đầu tư cho thuốc và hoá chất sử dụng trong một vụ nuôi chiếm 3,46% tổng chi phí và hầu hết các hộ nuôi được phỏng vấn (96,7%; n=30) có khu vực riêng để chứa thuốc, hóa chất và thức ăn cho cá. Qua kết quả khảo sát cho thấy các hộ nuôi cá tra trong vùng nghiên cứu vẫn còn hạn chế thông tin trong việc sử dụnghóa chất, liều lượng thích hợp, sự cẩn thận trong phương phápvàcách sử dụng cácchất hóa học.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2016, số Môi trường, tr.18-25

6. Tình hình sử dụng thuốc hóa chất trong mô hình lúa - cá kết hợp, cá tra ao đất và cá điêu hồng trong lồng bè ở Đồng bằng sông Cửu Long/ Nguyễn Quốc Thịnh, Trần Minh Phú, Huỳnh Sô Ni, Sebastien Quennery, Đỗ Thị Thanh Hương, Nguyễn Thanh Phương, Patrick Kestemont, Marie Louise Scippo

Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện trong năm 2013 nhằm đánh giá về tình hình sử dụng thuốc hóa chất trong quá trình canh tác mô hình lúa ? cá kết hợp, nuôi cá tra ao đất và nuôi cá điêu hồng trong lồng bè. Khảo sát được thực hiện ở 30 mô hình cá lúa ở huyện Cờ Đỏ, Cần Thơ, 15 ao nuôi cá tra ở Châu Phú và 22 bè nuôi cá điêu hồng ở Long Xuyên, An Giang và Cao Lãnh, Đồng Tháp. Qua kết quả điều tra cho thấy 100% các hộ nuôi cá sử dụng hoá chất trong quá trình nuôi. Có 37 loại thuốc hóa chất được nông hộ sử dụng trong mô hình lúa -cá, đa phần được sử dụng cho lúa. Mô hình cá Nuôi cá tra có 19 loại thuốc hóa chất được sử dụng trong đó có 10 loại thuộc nhóm xử lý nước, cải tạo ao và diệt ký sinh trùng, 7 loại thuộc nhóm thuốc kháng sinh dùng để phòng và trị bệnh cho cá và 2 loại dùng để bổ sung thức ăn. Có 18 loại thuốc hóa chất được sử dụng trong quá trình nuôi cá điêu hồng thuộc nhóm thuốc kháng sinh, nhóm thuốc hóa chất dùng xử lý môi trường và trị ký sinh trùng. Nhìn chung các loại kháng sinh sử dụng trong các mô hình nuôi không khác nhau nhiều, không có các loại thuốc nằm trong danh mục cấm của Bộ Thuỷ sản, tuy nhiên đa phần các loại thuốc đều nằm trong danh mục hạn chế sử dụng. Điều này có thể dẫn tới khả năng tồn lưu của các loại thuốc này cao hơn giới hạn cho phép (MRL) ảnh hưởng tới sức khoẻ người tiêu dùng và xuất khẩu sản phẩm.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2014, số Thủy sản, tr.278-283

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

- Địa chỉ truy cập: http://lhtv.vista.vn/  (Chọn STD-Tài liệu KH&CN Việt Nam)

- Lưu ý: Bạn đọc vui lòng truy cập theo hệ thống mạng nội bộ của Trường Đại học An Giang để đọc và download toàn văn tài liệu.

7. Kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm và một số yếu tố liên quan của người nội trợ tại xã Mỹ Đông huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp năm 2017/ Lê Thị Ngọc Dung; Lưu Quốc Toản; Nguyễn Quang Dũng 

Tóm tắt: Nghiên cứu cắt ngang khảo sát 242 người nội trợ về kiến thức, thực hành an toàn thực phẩm được triển khai từ tháng 2-8/2017 tại xã Mỹ Đông, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Mục tiêu của nghiên cứu cũng xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người nội trợ tại xã Mỹ Đông, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp. Đồng thời, nghiên cứu cũng xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm của người nội trợ tham gia nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ người nội trợ trên địa bàn xã Mỹ Đông, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp có kiến thức đúng về an toàn thực phẩm là 54,5 phần trăm và thực hành đúng về an toàn thực phẩn là 36,8 phần trăm. Nghiên cứu xác định có mối liên quan giữa các yếu tố tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế đến kiến thức về an toàn thực phẩm của người nội trợ, có mối liên quan giữa các yếu tố trình độ học vấn, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế đến thực hành về an toàn thực phẩm của người nội trợ (p0,05). Qua kết quả trên cho thấy, tỷ lệ người nội trợ tại xã có kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm còn thấp. Cần tăng cường các biện pháp truyền thông giáo dục sức khỏe về an toàn thực phẩm cho người nội trợ. 

Nguồn trích: Tạp chí Y học cộng đồng / 2018, số 1, tr.14-19

8. Thực trạng ô nhiễm sulfit và kiến thức, thực hành của người kinh doanh về thực hiện các quy định an toàn thực phẩm sử dụng sulfit trong dưa bồn bồn tại tỉnh Cà Mau năm 2017/ Trương Hồ Vũ Nghĩa; Tô Minh Nghị; Lưu Quốc Toản 

Tóm tắt: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính với định lượng được thực hiện tại 100 cửa hàng kinh doanh dưa bồn bồn tại thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau năm 2017. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng ô nhiễm sulfit trong dưa bồn bồn được kinh doanh tại các điểm chợ trên địa bàn. Đồng thời đánh giá kiến thức, thực hành của người kinh doanh về thực hiện an toàn thực phẩm sử dụng sulfit trong dưa bồn bồn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 56 mẫu dưa bồn bồn được xét nghiệm dương tính với sulfit. Tỷ lệ chủ cơ sở knih doanh có kiến thức chung đúng về sử dụng sulfit là 61 phần trăm. Thực hành về thực hiện các quy định pháp luật về an toàn thực phẩm của chủ cơ sở kinh doanh dưa bồn bồn còn chưa tốt. Qua nghiên cứu cho thấy, thực trạng sử dụng sulfit trong dưa bồn bồn còn phổ biến. Cơ quan chức năng tại địa phương cần đẩy mạnh công tác quản lý an toàn thực phẩm đối với sản phẩm dưa bồn bồn theo các quy định của pháp luật.

Nguồn trích: Thông tin Khoa học – Giáo dục (Đại học Bạc Liêu) / 2018, số 3-4, tr.9-13

9. Kiến thức về an toàn thực phẩm của người chế biến chính và một số yếu tố liên quan tại các quán ăn thị xã Cai Lậy, Tiền Giang năm 2017/ Trương Văn Bé Tư; Tạ Văn Trầm; Trần Thị Đức Hạnh

Tóm tắt: Xác định tỷ lệ kiến thức về an toàn thực phẩm của ngừi chế biến chính và một số yếu tố liên quan tại các quán ăn, thị xã Cai Lây, Tiền Giang năm 2017. Kết quả cho thấy có 81,25 phần trăm người chế biến chính có kiến thức đúng về an toàn thực phẩm. Vai trò của người chế biến, tiếp cận nguồn thông tin, giấy phép về an toàn thực phẩm có mối liên quan với kiến thức về an toàn thực phẩm của người chế biến chính. Trong nghiên cứu này, yếu tố về trình độ chuyên môn không đủ chứng cứ để khẳng định có hay không có mối liên quan với kiến thức về an toàn thực phẩm của người chế biến chính. 

Nguồn trích: Tạp chí Y dược học Cần Thơ / 2018, số 11-12, tr.281-287

10. Nghiên cứu mối quan hệ giữa kiến thức và hành vi chế biến của những người kinh doanh thực phẩm đường phố tại thành phố Trà Vinh/ Võ Minh Hoàng; Nguyễn Thị Hồng Thắm; Lê Minh Tâm

Tóm tắt: Không tìm thấy mối quan hệ giữa kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm và hành vi chế biến thực phẩm (r=0,27, p 0,05). Dựa trên thông tin về nhân khẩu học, yếu tố trình độ học vấn tác động có nghĩa đến kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm (F=3,54, p 0,05) nhưng không tác động có nghĩa đến hành vi chế biến thực phẩm (F0,05). Việc tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm được thực hiện với kì vọng là những người kinh doanh thực phẩm đường phố khi được trang bị kiến thức đầy đủ sẽ có hành vi đúng đắn trong quá trình chế biến và bảo quản. Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra một thực trạng rằng: mặc dù cơ quan chức năng luôn quan tâm và thực hiện việc tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm cho những người kinh doanh thực phẩm đường phố, nhưng cách làm hiện tại đã không phát huy được hiệu lực, bằng chứng là: hành vi chế biến của người kinh doanh thực phẩm đường phố đã được tập huấn vệ sinh an toàn thực phẩm cũng không khác hành vi chế biến của người không được tập huấn.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Trà Vinh/ 2017, số 26, tr.16-21

11. Kiến thức, thái độ, thực hành về an toàn vệ sinh thực phẩm và các yếu tố liên quan của chủ cơ sở trong chế biến thực phẩm tại tỉnh Vĩnh Long trước và sau can thiệp năm 2014/ Phạm Thành Suôi; Hoàng Văn Thành; Trần Đỗ Hùng 

Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện trên 577 nhà sản xuất và bán thực phẩm tại tỉnh Vĩnh Long từ 5/2013 đến 5/2014. Kết quả cho thấy, sau khi can thiệp, tỷ lệ các nhà sản xuất và bán thực phẩm là 90,7 %; thái độ và tỷ lệ thực hành chiếm 89,4% và 61,4%. Có một mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và kiến thức, giữa kiến thức và thực hành của những người làm việc trong lĩnh vực sản xuất thực phẩm. Do đó, các nhà quản lý cần tăng cường kiến thức, thái độ và thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của các nhà sản xuất thực phẩm. Các nhà quản lý cần thúc đẩy giáo dục sức khỏe về an toàn thực phẩm bằng các thông điệp hữu ích thiết thực và thể hiện rõ nội dung chính để củng cố và nâng cao kiến thức cho người bán và người mua về thực phẩm.

Nguồn trích: Tạp chí Y học Việt Nam/ 2015, số 1, tr. 147-152

 Tổng hợp: Hữu Nghị