Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất thấp ven biển của Việt Nam, là khu vực bị tác hại nặng nề do biến đổi khí hậu (BĐKH) gây ra. Vào mùa khô, nhiều tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long bị nước biển xâm nhập mặn sâu gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông nghiệp, nhiều khu vực thiếu nước ngọt phục vụ sinh họat... Trước tình hình trên, nhiều địa phương trong khu vực ĐBSCL đã và đang đề ra nhiều giải pháp để ứng phó và thích nghi với những biến đổi này.

Để giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này, mời các bạn tham khảo các bài nghiên cứu được tổng hợp từ các tạp chí, báo, kỷ yếu sau đây.

TÀI LIỆU IN CÓ TẠI THƯ VIỆN (Bản in được lưu tại Tầng 4)

1. Mô hình tôm càng xanh thích ứng với biến đổi khí hậu/ Dương Nhựt Long, Trương Minh Thái, Võ Hoàng Liêm Đức Tâm, Nguyễn Công Kha, Nguyễn Nhật Minh

Tóm tắt: Đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình nuôi tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879) thích ứng với biến đổi khí hậu ở An Giang” được thực hiện nhằm xây dựng cơ sở lý luận, khẳng định tính hiệu quả của mô hình nuôi có khả năng thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu xuất hiện trong vùng. Nghiên cứu thực hiện trong 9 ruộng lúa với 3 nghiệm thức (60cm, 90cm và 120cm). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng mạng cảm biến để theo dõi các yếu tố chất lượng nước như nhiệt độ, độ pH và DO đã chứng tỏ được sự hữu ích và chủ động trong việc giám sát và đánh giá các điều kiện môi trường của ao nuôi. Thí nghiệm còn ghi nhận, các yếu tố thủy lý hóa trong các ruộng nuôi biểu hiện khá phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm càng xanh. Khối lượng và tốc độ tăng trưởng cao nhất của tôm nuôi ở NT 3 cao nhất (63,47 ± 22,77g/con và 0,61g/ngày), kế đến là NT 2 (58,63 ± 21,90g/con và 0,42g/ngày) và thấp nhất ở NT 1 (55,40 ± 17,62g/con và 0,53g/ngày). Tỷ lệ sống và năng suất tôm nuôi cao nhất ở NT 3 (31,8 ± 0,8% và 1.590 ± 24 kg/ha) khác biệt có ý nghĩa thống kê (pNghiệm thức 3 đạt lợi nhuận cao nhất (131,1 ± 7,0 triệu đồng/ha) khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05) so với nghiệm thức 2, nhưng khác biệt có ý nghĩa (p. Tỷ suất lợi nhuận trung bình ở các nghiệm thức dao động từ 32,5 – 85,0%.

Nguồn trích: Tạp chí Thủy sản Việt Nam/ 2018, số 2(273), tr.54-55

2. Tính toán thể tích bể chứa nước mưa quy mô hộ gia đình ở thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng/ Đinh Diệp Anh Tuấn, Huỳnh Thị Mỹ Nhiên, Nguyễn Hiếu Trung

Tóm tắt: Nước mưa là nguồn nước thay thế tiềm năng cho người dân ở Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, giá thành của một hệ thống thu gom nước mưa còn khá cao đối với các hộ dân nghèo ở vùng đồng bằng này, đặc biệt là chi phí đầu tư lắp đặt bể chứa nước mưa. Nghiên cứu này được tiến hành từ tháng 07 năm 2016 đến tháng 03 năm 2017 ở thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Nghiên cứu đã thực hiện các nội dung như sau: 1) Khảo sát 102 hộ dân về hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt và tiềm năng khai thác nước mưa; 2) Tính toán tối ưu thể tích bể chứa cho hộ gia đình dựa trên kết quả đầu ra từ bước 1. Theo kết nghiên cứu cho thấy nhu cầu nước của hộ trung bình là từ 300 - 500 lít/ngày, diện tích mái nhà từ 50 - 100 m2, diện tích nơi chứa nước từ 1 - 3 m2. Ứng với nhu cầu nước và khả năng trữ như trên, thể tích bể chứa tối ưu là từ 1 - 3 m3 tùy theo loại vật liệu. Vật liệu kiệu sành có chi phí thấp nhất và thể tích bể chứa tối ưu là 1 - 3 m3, vật liệu bê tông cốt thép có chi phí cao nhất và thể tích bể chứa tối ưu từ 0,5 - 2 m3.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2018, số 3, tr.12-29

3. Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm tại vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng/ Nguyễn Thùy Trang, Huỳnh Việt Khải, Võ Hồng Tú

Tóm tắt: Chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp vùng ven biển đang diễn ra như một xu hướng tất yếu trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cụ thể từ mía sang mô hình chuyên tôm với kỳ vọng lợi nhuận cao hơn. Do vậy, nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở phỏng vấn trực tiếp 90 nông hộ nuôi tôm đã chuyển đổi từ mô hình trồng mía tại huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng nhằm đánh giá thực trạng sản xuất, cụ thể phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình chuyển đổi này nhằm cung cấp minh chứng cho các nhà hoạch định chính sách. Kết quả nghiên cứu về thực trạng nuôi tôm của nông hộ cho thấy lợi nhuận trung bình đạt 452 triệu đồng/ha/vụ và có sự dao động lớn giữa các nông hộ do rủi ro trong quá trình sản xuất. Hiệu suất kinh tế theo quy mô của nông hộ nuôi tôm là tăng dần. Hiệu quả kinh tế trung bình của nông hộ nuôi tôm là 80,82% và có sự biến động lớn giữa các hộ. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy chi phí mất đi do không đạt hiệu quả về kinh tế hay nói cách khác là chi phí mà nông hộ nuôi tôm có thể giảm trung bình là 102 triệu đồng/ha/vụ.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2018, số 7, tr.146-154

4. Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình chuyển đổi cây trồng thích ứng biến đổi khí hậu ở Trà Vinh/ Nguyễn Thị Thuý Loan 

Tóm tắt: Dựa trên kết quả khảo sát thực tế từ 162 hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, bài viết đã tiến hành so sánh và đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình chuyển đổi cây trồng từ trống lúa sang màu). Kết quả nghiên cứu cho thấy, thu nhập của các nông hộ trồng lúa trung bình gấp 3 lần tương ứng khoảng 5,7 triệu đồng/công/năm. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng xác định và lượng hóa tác động của các nhân tố đến hiệu quả kinh tế của mô hình chuyển đổi thông qua phương pháp phân tích hồi quy đa tuyến. Kết quả ước lượng có sự tương tác giữa mô hình luân canh lúa - màu, chuyên canh màu, chi phí lao động, tuổi và dân tộc của chủ hộ. Trong đó, yếu tố "nhận thức biến đổi khí hậu" của nông hộ có tác động tích cực đến hiệu quả kinh tế của mô hình chuyển đổi. Cuối cùng, nghiên cứu đưa ra một số gợi ý chính sách nhằm góp phần nâng cao hiệu quả knih tế của mô hình chuyển đổi cây trồng thích ứng biến đổi khí hậu.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Trà Vinh / 2017, Số 06, tr.31-38

5. Tiềm năng đất đai cho sản xuất nông nghiệp tỉnh Bạc Liêu trong điều kiện biến đổi khí hậu/ Phạm Thanh Vũ, Lê Quang Trí, Vương Tuấn Huy

Tóm tắt: Bạc Liêu được xem là một trong những tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long sẽ phải chịu ảnh hưởng do biến đổi khí hậu (xâm nhập mặn, nước biển dâng) đến sản xuất nông nghiệp. Nhằm giúp quá trình sử dụng đất bền vững đề tài đã được thực hiện để xác định các vùng thích nghi đất đai cho các kiểu sử dụng đất tại các tiểu vùng sinh thái (mặn, ngọt và lợ) của tỉnh. Thông qua các kịch bản biến đổi khí hậu được đề xuất kết hợp với phương pháp đánh giá đất đai theo FAO (1976) kết quả nghiên cứu đã phân vùng thích nghi hiện tại và thích nghi trong bối cảnh tương lai từ các kịch bản nước biển dâng và xâm nhập mặn trong các trường hợp không có tác động của công trình và có tác động của công trình (Âu thuyền Ninh Quới – cống ngăn mặn) cho 09 kiểu sử dụng đất chính của tỉnh Bạc Liêu (LUT1: 3 vụ lúa; LUT2: 2 vụ lúa; LUT3: tôm - lúa; LUT4: chuyên Tôm; LUT5: lúa - màu; LUT6: chuyên màu; LUT7: rừng - tôm; LUT8: Tôm Quảng canh/Quảng canh cải tiến-kết hợp thủy sản (tôm - thủy sản), LUT8: muối-thủy sản. Kết quả đạt được có thể giúp các nhà quản lý, thực hiện chính sách có những biện pháp quy hoạch sử dụng đất hợp lý trong tương lai.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2016, số 42, tr.58-69

6. Kiên Giang: khôi phục hệ sinh thái rừng ngập mặn khu dự trữ sinh quyển trong bối cảnh thích ứng với biến đổi đổi khí hậu/ Nguyễn Xuân Niệm

Tóm tắt: So với các khu rừng ngập mặn trong cả nước, rừng ngập mặn ở Kiên Giang được đánh giá là rất đa dạng về loài. Những năm gần đây, công tác bảo vệ và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển luôn được tỉnh Kiên Giang đặc biệt quan tâm. Kết quả trong việc thực hiện các biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học của rừng ngập mặn ở khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang trong điều kiện biến đổi khí hậu, góp phần bảo đảm cho sự phát triển bền vững.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học & Công nghệ / 2016, số 10, tr.41-42

7. Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và giải pháp ứng phó trong mô hình tôm sú - lúa luân canh ở Đồng bằng sông Cửu Long/ Lê Thị Phương Mai, Trần Ngọc Hải, Dương Văn Ni, Võ Nam Sơn

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm đánh giá nhận thức, ảnh hưởng và giải pháp của người nuôi tôm trong mô hình tôm - lúa luân canh do tác động của biến đổi khí hậu thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 99 hộ nuôi tôm sú – lúa tại các vùng trọng điểm nuôi tôm lúa ở tỉnh Sóc Trăng (huyện Mỹ Xuyên; 32 hộ), Bạc Liêu (huyện Phước Long; 34 hộ) và Cà Mau (huyện Trần Văn Thời; 33 hộ). Các thông tin được thu thập là hiệu quả sản xuất, các giải pháp ứng phó của người nuôi trong thời gian qua và thời gian tới do sự thay đổi của các yếu tố như mùa mưa, lượng mưa, nhiệt độ, độ mặn và mực nước thủy triều. Kết quả nghiên cứu cho thấy năng suất tôm nuôi trung bình là 0,35 tấn/ha/vụ, lợi nhuận trung bình 24,2 trđ./ha/vụ với tỷ lệ thua lỗ trung bình 9,1%. Năng suất lúa trung bình là 5,2 tấn/ha/vụ, lợi nhuận trung bình 16,5 trđ./ha/vụ với tỷ lệ thua lỗ trung bình (8,1%). Hầu hết (90%) nông dân nhận thức được sự thay đổi và tác động của thời tiết trong thời gian qua và thời gian tới. Giải pháp ứng dụng khoa học kỹ thuật được người nuôi lựa chọn (70,1 – 95,5%) để giải quyết các vấn đề khó khăn nhiều hơn so với các giải pháp khác (p<0,05). Khi mùa mưa thay đổi, nhóm chọn giải pháp khoa học kỹ thuật có lợi nhuận của tôm dao động từ 24,6 - 27,9 trđ./ha/vụ và lúa 17,3 - 18,0 trđ./ha/vụ cao hơn nhóm lựa chọn giải pháp thay đổi lịch thời vụ có lợi nhuận của tôm 12,2 – 22,7 trđ./ha/vụ và lúa 13,9 - 17,3 trđ./ha/vụ (p<0,05). Khi độ mặn thấp, nhóm lựa chọn giải pháp thay đổi lịch thời vụ có năng suất (0,5 tấn/ha/vụ) và lợi nhuận (52,5 trđ./ha/vụ) của tôm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các nhóm còn lại (p<0,05).

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2015, số 41, tr.121-133

8. Các mô hình canh tác ứng phó với biến đổi khí hậu cho vùng đất giồng cát ven biển ở Đồng bằng sông Cửu Long/ Lê Anh Tuấn, Hoàng Thị Thuỷ, Võ Văn Ngoan

Tóm tắt: Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 48.822 ha đất giồng cát ven biển. Đó là những dải đất hẹp phân bố song song với bờ biển, tập trung chủ yếu ở các tỉnh có cửa sông như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng. Vùng đất giồng là nơi có mật độ dân cư tương đối cao, tồn tại nhiều hoạt động sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp khá đa dạng. Trong khoảng một thập niên vừa qua, thời tiết bất thường đã gây một số tác động cho vùng giồng cát. Nghiên cứu này được thực hiện thông qua việc phân tích tổng hợp các điều tra thực địa, thảo luận với các nhóm sinh kế khác nhau qua phỏng vấn và trao đổi với 160 nông dâng đang canh tác trên các giồng cát ven biển. Kết quả khảo sát cho thấy, mô hình đa canh cây màu được nông dân áp dụng nhiều nhất (85-95%), trong khi ươm nuôi thuỷ sản ít được nông dân chọn lựa (0-10% số nông dân được hỏi). Nghiên cứu ghi nhận và đánh giá khả năng thích ứng của các mô hình canh tác nông - lâm - ngư của các cộng đồng cấp xã ở địa phương, cộng đồng địa phương có thể ứng phó hợp lý với các tác động biến đổi khí hậu. Năm giải pháp ứng phó phổ biến được người dân địa phương ưu tiên lựa chọn là (i) bố trí thời vụ hợp lý (88%); (ii) chọn lựa cây - con phù hợp (78,75%); (iii) áp dụng giải pháp kỹ thuật nông nghiệp (73,12%); (iv) tận dụng phụ phẩm để tăng thu nhập (60%) và (v) tổ chức hợp tác trong sản xuất (51,25%). Sai số thống kê trong năm ưu tiên chọn lựa nói trên là dưới 10%. Nghiên cứu đề xuất những cải tiến về chính sách tạo động lực cho sự phát triển bền vững lâu dài cho khu vực.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2015, số Môi trường, tr.150-158

9. Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế của cộng đồng xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau/ Lê Thị Diệu Hiền, Nguyễn Quốc Nghi, Nguyễn Xuân Trúc, Trần Thị Diễm Cần

Tóm tắt: Nghiên cứu này sử dụng phương pháp đánh giá chỉ số tổn thương sinh kế (Livelihood Vulnerability Index ? LVI) để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đến sinh kế của cộng đồng cư dân xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Số liệu của nghiên cứu được thu thập bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng với cỡ mẫu là 82 hộ dân đang sinh sống trên địa bàn xã Đất Mũi. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tổn thương sinh kế của cộng đồng xã Đất Mũi giảm dần theo các yếu tố mạng lưới xã hội, chiến lược sinh kế, lương thực thực phẩm, đặc điểm hộ, nguồn nước, thảm họa tự nhiên, vốn tài chính và sức khỏe. Sự thể hiện tác động của BĐKH tại địa phương ở mức trung bình, sự nhạy cảm/tính dễ tổn thương trước tác động của BĐKH là không quá cao. Nghiên cứu còn đề xuất một số giải pháp giúp cộng đồng dân cư xã Đất Mũi nâng cao khả năng thích ứng với tác động của BĐKH.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2014, số 32, tr.103-108

10. Khả năng thích ứng của nông dân đối với biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long/ Võ Văn Tuấn, Lê Cảnh Dũng, Võ Văn Hà, Đặng Kiều Nhân

Tóm tắt: Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng thích ứng của nông dân trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long đối với tác động của biến đổi khí hậu. Khả năng thích ứng của nông dân trồng lúa được đánh giá tại 4 tỉnh phía Nam Sông Hậu thuộc các đặc thù sinh thái khác nhau tùy theo chế độ thủy văn và đặc tính đất đai, bao gồm An Giang (lũ), Cần Thơ (phù sa), Hậu Giang (đất phèn) và Bạc Liêu (nước mặn). Nghiên cứu được thực hiện thông qua tiếp cận định tính, chủ yếu là thảo luận nhóm. Có 23 nhóm nông dân được thảo luận, các nhóm này được phân chia theo quy mô sở hữu đất nông nghiệp (nhỏ và lớn hơn 1 ha) và hệ thống canh tác chính dựa trên nền lúa tại các điểm nghiên cứu. Kết quả phân tích cho thấy rằng các hiểm họa chính được nông dân chỉ ra là nhiệt độ cao bất thường, ngập úng do lũ và mưa, hạn hán, xâm nhập mặn và dịch hại trên lúa. Nông dân đã và đang ứng phó lại các tác động này; tuy vậy, bên cạnh các yếu tố thúc đẩy, họ đang đối mặt với nhiều yếu tố gây cản trở quá trình thích ứng. Các yếu tố thúc đẩy gồm có diện tích đất lúa và hiệu quả sử dụng tài nguyên, phương tiện tiếp cận thông tin và các tổ chức không chính thức tại cộng đồng (CLB giống và khuyến nông). Các yếu tố cản trở đa dạng hơn, chẳng hạn như thiếu lao động, đất canh tác hạn chế, ô nhiễm nước mặt, thiếu vốn cục bộ và tham gia đoàn thể địa phương.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2014, số 31, tr.63-72

 TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

- Địa chỉ truy cập: http://lhtv.vista.vn/  (Chọn STD-Tài liệu KH&CN Việt Nam)

- Lưu ý: Bạn đọc vui lòng truy cập theo hệ thống mạng nội bộ của Trường Đại học An Giang để đọc và download toàn văn tài liệu.

11. Kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp của người dân ở tỉnh Cà Mau nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu/ Phạm Thị Cẩm Vân

Tóm tắt: Tìm hiểu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới canh tác nông nghiệp của người dân ở tỉnh Cà Mau và những kinh nghiệm của họ nhằm thích ứng với quá trình biến đổi này. Phát hiện từ nghiên cứu thực địa cho thấy, trong vòng 5 năm trở lại đây, thay đổi về mùa khô và mùa mưa là diễn biến điển hình của biến đổi khí hậu. Trước bối cảnh đó, người dân đã phải thay đổi lịch mùa vụ, cơ cấu cây trồng, áp dụng kỹ thuật luân canh, xen canh để vừa tăng năng suất, vừa đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp. Tuy nhiên, sự thích ứng này chủ yếu còn mang tính thụ động; do đó để có thể ứng phó với biến đổi khí hậu hiệu quả hơn, cần có sự kết hợp chủ động và lâu dài giữa người nông dân và nhà quản lý.

Nguồn trích: Tạp chí Dân tộc học / 2018, số 02, tr.77-87

12. Đánh giá năng lực thích ứng biến đổi khí hậu của hộ nghèo thành phố Cần Thơ/ Trần Quốc Bảo; Nguyễn Thị Lan 

Tóm tắt: Thành phố Cần Thơ là khu vực được dự báo chịu nhiều rủi ro do tác động của Biến đổi khí hậu, trong đó cộng đồng dân cư nghèo sẽ là cộng đồng dễ bị tổn thương nhất. Bài báo đi sâu tìm hiểu về tính dễ tổn thương và năng lực thích ứng của cộng đồng nghèo thành phố Cần Thơ. Với mục đích tìm hiểu mối liên hệ giữa các yếu tố chi phối tính dễ tổn thương và năng lực thích ứng của cộng đồng nghèo với biến đổi khí hậu, bài báo hướng tới mục tiêu cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng một kế hoạch chiến lược tổng thể, toàn diện phát triển bền vững cho thánh phố Cần Thơ thông quan những đề xuất góp phần giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu. Bài báo sử dụng khung lý thuyết phân tích Tính dễ tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu (CVCA) đề xuất bới CARE để định hướng phương pháp nghiên cứu. Thông qia khảo sát xã hội học, nghiên cứu tiến hành phân tích thông tin và đưa ra nhận định rằng năng lực thích ứng của cộng đồng nghèo thành phố Cần Thơ còn nhiều hạn chế, các hộ chưa có các biện pháp linh động để thoát khỏi nguy hiểm hay có lương thực dự trữ trong trường hợp có thiên tai, trong khi đó mức độ phổ biến và tiến cận thông tin của các hộ về biến đổi khí hậu là cao. Tuy nhiên, thiếu sự tiếp cận với thông tin về biện pháp ứng phó cũng như sinh kế bền vững. 

Nguồn trích: Tạp chí Tài nguyên nước / 2017, số 01, tr.88-92

13. Nghề nuôi cá tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878) ở Đồng bằng sông Cửu Long trước thách thức của biến đổi khí hậu và biện pháp thích ứng/ Nguyễn Lâm Anh 

Tóm tắt: Nghề nuôi cá tra phát triển mạnh trong những năm gần đây, đóng góp quan trọng vào sản lượng thủy sản nuôi và phát triển kinh tế xã hội ở Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện nay, hình thức nuôi chủ yếu trong ao đất dọc theo các nhánh sông Tiền và Hậu có chế độ thủy văn bị chi phối bởi lưu lượng dòng chảy biến động theo mùa và chế độ thủy triều. Việt Nam là một trong năm quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh nhất của biến đổi khí hậu thông qua hiện tượng nước biển dâng. Khi mực nước biển dâng, vùng nuôi cá tra ở An Giang và Đồng Tháp sẽ bị ảnh hưởng nặng nề vào mùa mưa khi các dỉnh lũ lên cao hơn và quá trình xâm nhập mặn trong mùa khô vào sâu hơn trong đất liền, kéo dài với độ mặn cao. Để đối phó với những tác hại do mực nước biển dâng, người nuôi cá tra phải tăng chi phí cho việc nâng cao đê bao, điều chỉnh thời vụ, giảm mật độ thả, thả con giống kích thước lớn hơn và cải tiến kỹ thuật chăm sóc. Các tổ chức liên quan như chính quyền, viện nghiên cứu, các công ty thủy sản có thể can thiệp về mặt chính sách, hệ thống đê điều, sản xuất giống cá tra chịu mặn và nâng cao nhận thức của người nuôi để giúp cho nghề nuôi cá tra ứng phó hiệu quả với tác động của biến đổi khí hậu. 

Nguồn trích:Tạp chí Khoa học Công nghệ Thủy sản/ 2016, số 02, tr.130-137