Với thế mạnh về sản suất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa, hàng năm, các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã đóng góp vào xuất khẩu gạo với sản lượng lớn nhất cả nước. Để duy trì cũng như phát triển thế mạnh này, việc xây dựng “Cánh đồng mẫu lớn” là một giải pháp quan trọng, lâu dài, góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững trong sản xuất lúa gạo nói riêng và các loại cây trồng khác trong những năm tới đây ở khu vực này.

Để giúp mọi người có cái nhìn rõ hơn về mô hình cánh đồng mẫu lớn, hiệu quả kinh tế của mô hình mang lại, những thuận lợi khó khăn khi triển khai mô hình, mời quý bạn đọc tham khảo các bài nghiên cứu sau.

 TÀI LIỆU IN CÓ TẠI THƯ VIỆN (Bản in được lưu tại Tầng 4)

1. Hiệu quả của mô hình cánh đồng lớn: bằng chứng thực nghiệm ở Cần Thơ và Sóc Trăng / Nguyễn Tuấn Kiệt; Trịnh Công Đức

Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu chính là phân tích hiệu quả của mô hình cánh đồng lớn ở Sóc Trăng và Cần Thơ

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ quốc gia / 2017, số 26, tr. 212-222

2. Đánh giá hiệu quả mô hình sản xuất lúa truyền thống và cánh đồng lớn tại thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng / Nguyễn Thị Mỹ Linh, Lê Phan Đình Huấn, Huỳnh Văn Phụng, Phan Kỳ Trung, Nguyễn Văn Bé, Văn Phạm Đăng Trí

Tóm tắt: Sóc Trăng là một trong những tỉnh sản xuất nông nghiệp trọng điểm ở Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó canh tác lúa là mô hình phổ biến nhất. Thêm vào đó, sản xuất nông nghiệp với mục tiêu phát triển kinh tế là chính nên quyết định lựa chọn mô hình sản xuất nông nghiệp phù hợp với khu vực là một yêu cầu rất cần thiết và quan trọng. Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ngoài mục tiêu phát triển kinh tế nên xem xét đến mục tiêu xã hội và môi trường nhằm hướng đến nền nông nghiệp phát triển bền vững. Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm: (i) đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của hai mô hình sản xuất lúa: cánh đồng lớn và truyền thống và (ii) phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của các mô hình canh tác lúa tại thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích, chuẩn hóa số liệu, thang đo Likert, tiếp cận giá trị mong đợi để phân tích và tổng hợp các số liệu được phỏng vấn từ nông hộ. Các chỉ tiêu dựa trên các tiêu chí đánh giá đất đai của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (2007) và các nghiên cứu đã được thực hiện ở Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả cho thấy mô hình cánh đồng lớn cho tổng số điểm 3 mục tiêu (kinh tế, xã hội và môi trường) lớn hơn mô hình truyền thống với số điểm lần lượt là 0,99 và 0,73. Nhìn chung, cánh đồng lớn đã khẳng định là một phương thức sản xuất lúa tiên tiến góp phần tạo động lực cho sự phát triển nông nghiệp cho thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. 

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2017, số Môi trường, tr.45-54

3. Phân tích chuỗi cung ứng ngành hàng gạo: Trường hợp gạo từ cánh đồng lớn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long/ Bùi Văn Trịnh, Trần Hồng Đan Yến

Tóm tắt: Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích thực trạng chuỗi cung ứng ngành hàng gạo: trường hợp gạo từ cánh đống lớn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bước đầu hoạt động của chuỗi mang lại một số hiệu quả đáng kể, sản xuất tập trung, chí phí sản xuất giảm, tạo ra lúa hàng hóa chất lượng cao, ổn định. Tuy nhiên, các tác nhân trong chuỗi thiếu sự liên kết, đầu ra chưa được đảm bảo, chủ yếu bán cho thương lái, là những nguyên nhân làm cho chuỗi hoạt động không mang lại hiệu quả như kỳ vọng. Từ đó, đề xuất một số giải pháp đối với từng tác nhân chính tham gia trong chuỗi để thúc đẩy hoàn thiện hơn chuỗi cung ứng cho ngành hàng gạo từ cánh đồng lớn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học Cần Thơ / 2017, số 8, tr.53-62

4. Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh lúa của các nông hộ tham gia mô hình cánh đồng lớn tại An Giang / Lê Nguyễn Đoan Khôi

Tóm tắt: Trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay, liên kết hợp tác trong sản xuất hay liên kết trong kinh tế nói chung là tất yếu khách quan, trên cơ sở phát triển hàng hóa và phân công lao động, cạnh tranh trên thị trường. Việc quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh theo mô hình liên kết sẽ giúp nhà sản xuất giảm rủi ro các biến động về giá cả thị trường và giảm ảnh hưởng của thời tiết, tạo điều kiện để thâm canh nông nghiệp; giúp các doanh nghiệp thuận tiện trong việc lập kế hoạch kinh doanh, đảm bảo nguồn hàng xuất khẩu. Mô hình cánh đồng mẫu lớn cho thấy những hiệu quả kinh tế cao trong việc nâng cao thu nhập cho ngừơi nông dân, liên kết thị trừơng và từng bứơc xây dựng thương hiệu gạo Việt với vùng nguyên liệu chất lựơng cao, và hình thành lực lượng nông dân có trình độ cao trong quá trình sản xuất lúa. Kết quả của nghiên cứu so sánh hiệu quả quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh của hai nhóm nông hộ trồng lúa ở tỉnh An Giang: nhóm nông hộ trong mô hình Cánh đồng mẫu lớn và nhóm ngoài mô hình, từ đó đề ra một số giải pháp nâng cao thâm nhập thị trường lúa gạo thông qua việc tạo mối liên kết bền vững giữa Doanh nghiệp- Nông dân.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Đại học Huế / 2015, số 10, tr.109-114

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

- Địa chỉ truy cập: http://lhtv.vista.vn/  (Chọn STD-Tài liệu KH&CN Việt Nam)

- Lưu ý: Bạn đọc vui lòng truy cập theo hệ thống mạng nội bộ của Trường Đại học An Giang để đọc và download toàn văn tài liệu.

5. Nghiên cứu đề xuất quy hoạch bố trí đồng ruộng xây dựng cánh đồng lớn sản xuất lúa vùng Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long / Đoàn Doãn Tuấn; Phạm Hồng Cường; Bùi Công Kiên

Tóm tắt: Lúa gạo đóng vai trò không thể thay thế được trong nông nghiệp Việt Nam. Đề giải quyết thực trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mú ruộng đấy, năng suất lao động thấp, cần triển khai dồn điền đổi thửa, xây dựng cánh đồng lớn sản xuất lúa song song với việc quy hoạch, bố trí lại đồng ruộng. Xây dựng cánh đồng lớn đòi hỏi vốn đầu tư lớn vào hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi. Một khi đã đầu tư xây dựng không dễ phá đi làm lại. Do đó, việc quy hoạch bố trí lại đồng ruộng cần phân tích kỹ càng xem xét đến tương lai khi nguồn lao động nông thôn giảm, đất đai được tích tụ, nhu cầu cơ giới hóa với máy móc có công suất lớn hơn tăng cao. Kết quả nghiên cứu cho thấy, để tạo điều kiện tưới tiêu chủ động, máy nông nghiệp hoạt động hiệu quả, tuyến đường giao thông, kênh mương thỷ lợi nội đồng cần bố trí dọc chiều rộng và chiều dài của thửa ruộng. Trong điều kiện hiện nay, thửa ruộng vùng Đồng bằng sông Hồng nên bố trí theo chiều rộng khoảng 20-40m, chiều dài 50-100m, vùng Đồng bằng sông Cửu Long nên lựa chọn chiều rộng 20-50m, chiều dài 150-300m. Trong tương lai, khi đất đai được tích tụ, quy mô lô thửa ruộng được xây dựng lớn hơn bằng cách đơn giản bỏ bớt các bờ thửa để tăng kích thước thửa ruộng vùng Đồng bằng sông Hồng lên Nx(20-40) mx100m và Đồng bằng sông Cửu Long lên Nx (20-50)mx(50-300)m.

Nguồn trích: Tạp chí Tài nguyên nước / 2017, Số 4, tr.63-71

6. Mô hình Cánh đồng lớn: Hiệu quả về kinh tế- xã hội - môi trường và gợi ý chính sách cho phát triển bền vững / Đinh Phi Hổ; Quách Thị Minh Trang 

Tóm tắt: Mô hình Cánh đồng lớn được quan tâm trong thực tiễn vì đã đem lại những kết quả lợi nhuận, thu nhập hơn hản sản xuất cá thể. Tìm hiểu hiệu quả về kinh tế - xã hội - môi trường của mô hình Cánh đồng lớn so với mô hình sản xuất hộ truyền thống là những thách thức đối với các nhà nghiên cứu và những nhà chính sách ở Việt Nam. Dựa vào khung lý thuyết kinh tế học và thực tiễn Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp kiểm định trung bình mẫu độc lập (Independent Sample T-test) và kiểm định Chi bình phương (Chi- square tests) nhằm đánh giá hiệu quả mô hình Cánh đồng lớn. Nghiên cứu tiến hành điều tra trực tiếp 520 hộ nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long, trong đó, 260 hộ nông dân có tham gia và 260 hộ nông dân không tham gia cánh đồng lớn. Kết quả cho thấy hộ nông dân tham gia cánh đồng lớn có hiệu quả về kinh tế - xã hội - môi trường hơn hộ nông dân không tham gia cánh đồng lớn. 

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế & Phát triển / 2017, số 243, tr. 52-60

7. Hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các nông hộ tham gia cánh đồng lúa lớn ở đồng bằng sông cửu Long / Nguyễn Phú Son; Lê Bửu Minh Quân; Phan Huyền Trang 

Tóm tắt: Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 90 hộ sản xuất (HSX) lúa trong cánh đồng lúa lớn (CĐLL) và 90 HSX nằm ngoài CĐLL để đánh giá và so sánh hiệu quả sản xuất giữa hai nhóm hộ này tại 3 tỉnh An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp. Những hộ sản xuất này được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phải ngẫu nhiên, thuận tiện. Nghiên cứu đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp phân tích định lượng khác nhau để đánh giá và so sánh hiệu quả sản xuất giữa hai nhóm hộ. Những công cụ phân tích được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm thống kê mô tả, kiểm định giả thuyết, phân tích bao phủ dữ liệu (Data Envelopment Ânlysis DEA) và phân tích hồi qui đa biến, sử dụng dạng hàm Tobit. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy các HSX lúa trong CĐLL hầu như đạt hiệu quả sản xuất cao hơn so với các HSX nằm ngoài CĐLL, đặc biệt trong vụ Đông Xuân. Kết quả nghiên cứu cho thấy các HSX lúa trong CĐLL có thể cắt giảm chi phí sản xuất đến 24,3 phần trăm để nâng cao hiệu quả chi phí, trong khi vẫn giữ được mức sản lượng không đổi. Những yếu tố có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa đến hiệu quả chi phí của các HSX trong CĐLL, bao gồm: mức độ chuyên môn hóa của các HSX lúa, mối liên kết giữa các HSX lúa với những nhà cung cấp đầu vào, sử dụng giống có nguồn gốc từ các cơ sở/đơn vị sản xuât giống mang tính chuyên nghiệp và việc tự trang bị được máy bơm nước. 

Nguồn trích: Tạp chí Công Thương/ 2017, số 12, tr.86-93

8. Liên kết xây dựng Cánh đồng mẫu lớn theo hướng GAP để đảm bảo an ninh lương thực ở Đồng bằng sông Cửu Long/ Nguyễn Thị Bé Ba

Tóm tắt: Cánh đồng mẫu lớn (CĐML) theo hướng GAP đang được triển khai ngày càng nhiều trong sản xuất lương thực ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Đặc biệt, sản xuất và tiêu thụ lúa gạo đã có bước chuyển biến theo hướng tích cực: tăng năng suất và giá trị hạt gạo, đảm bảo an toàn vệ sinh và thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, việc triển khai cánh đồng mẫu lớn còn nhiều khó khăn do liên kết giữa các bên tham gia trong CĐML còn nhiều bất cập. Vì vậy, cần tìm giải pháp tăng cường liên kết tiến tới xây dựng vùng lương thực hàng hóa chất lương cao xuất khẩu, từ đó tăng thu nhập cho nhà nông, góp phần đảm bảo ANLT vùng ĐBSCL vững chắc.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học tự nhiên và công nghệ / 2016, số 9, tr.968

9. Đánh giá hiệu quả kinh tế của nông hộ sản xuất lúa trong cánh đồng mẫu lớn ở tỉnh An Giang / Nguyễn Quốc Nghi

Tóm tắt: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế của nông hộ sản xuất lúa trong mô hình cánh đồng mẫu lớn (CĐML) ở tỉnh An Giang. Số liệu sơ cấp được thu thập từ 115 nông hộ tham gia mô hình CĐML ở các huyện Châu Thành, Châu Phú và Thoại Sơn. Các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu là thống kê mô tả và phân tích các tỷ số tài chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy, với sự hỗ trợ của các doanh nghiệp từ khâu đầu vào đến khâu tiêu thụ sản phẩm, nông hộ tham gia mô hình CĐML đã đạt được mức lợi nhuận khá cao, cụ thể: vụ Đông Xuân là 2.063.168 đồng/1000m2, vụ Hè Thu là 996.329 đồng/1000m2, vụ Thu Đông là 1.421.256 đồng/1000m2. Tỷ suất lợi nhuận của nông hộ sản xuất lúa trong mô hình CĐML đạt được rất khả quan. Ở cả 3 vụ, tỷ suất lợi nhuận nông hộ đạt trên 0,4 lần. Đặc biệt, ở vụ Đông Xuân, nông hộ đạt tỷ suất lợi nhuận là 0,85 lần.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ / 2016, số 2, tr.17-21

10. Liến kết "bốn nhà" với mô hình "cánh đồng mẫu lớn" trong nông nghiệp ở thành phố Cần Thơ / Mai Trần Hải Đăng 

Tóm tắt: Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn là mục tiêu cơ bản trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của TP Cần Thơ. Quá trình thực hiện đã cho thấy hiệu quả kinh tế ban đầu của liên kết "bốn nhà" với mô hình "Cánh đồng mẫu lớn". Bên cạnh nhiều mặt tích cực, mô hình cũng tồn tại những hạn chế, bất cập đòi hỏi phải có những giải pháp mới mang tính đồng bộ... 

Nguồn trích: Tạp chí Phát triển bền vững Vùng  / 2016, số 3, tr.52-57