1. Hiện trạng, định hướng và giải pháp liên kết phát triển, hợp tác trong các lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch vùng kinh tế trọng điểm phía Nam/ Hoàng Công Dân

Tóm tắt: Văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch là những lĩnh vực quan trọng trong đời sống kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với nhau. Những mô hình và phương thức liên kết là một mặt không thể thiếu trong định hướng phát triển ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, giai đoạn đến năm 2020 và định hướng năm 2030.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Đào tạo và huấn luyện Thể thao/ 2016, Số ĐB, Tr.73-77

2. Thực trạng phát triển làng nghề ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay/ Huỳnh Đức Thiện

Tóm tắt: Trong giai đoạn hiện nay, làng nghề ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VKTTĐPN) của VIệt Nam đóng góp rất nhiều cho sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều địa phương trong vùng. Các loại hình sản xuất của làng nghề đã tạo việc làm cho nhiều lao động. Bên cạnh đó làng nghề còn tạo sản phẩm xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Tuy có tiềm năng phát triển và đứng trước các cơ hội mở rộng thị trường, nhưng làng nghề ở VKTTĐPN trong giai đoạn hiện nay vẫn tồn tại nhiều hạn chế như tình hình kinh doanh không ổn định, thiếu vốn sản xuất ... Bài viết này tập trung khảo sát, phân tích thực trạng phát triển trong các loại hình sản xuất của làng nghề và tình hình kinh doanh của làng nghề vùng VKTTĐPN của VIệt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Phát triển khoa học và công nghệ/ 2014, Số X4, Tr.108-115

3. Quy hoạch tổng thể phát triển văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030/ Hoàng Công Dân

Tóm tắt: Vùng Đông Nam Bộ và vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam bao gồm 08 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Ngày 18-8-2015, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 1400.QĐ-TTg, phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch vùn Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Đào tạo và Huấn luyện Thể thao/ 2016, Số 1, Tr. 34-37

4. Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - cơ hội và thách thức trong tiến trình hội nhập/ Trần Du Lịch

Tóm tắt: Đó là một trong ba vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, gồm 7 tỉnh; chiếm 9,2% diện tích, 17,7% dân số, 74% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước,... Bên cạnh những cơ hội lý tưởng xuất phát từ những lợi thế riêng có, vùng kinh tế này đang đứng trước những thách thức và nguy cơ lớn, đòi hỏi phải có những biện pháp cần kíp và hữu hiệu để khẳng định là vùng kinh tế động lực đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Nguồn trích: Tạp chí Cộng sản

5. Vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực vùng kinh tế trọng điểm phía Nam/ Nguyễn Thị Oanh

Tóm tắt: Vùng kinh tễ trọng điểm phía Nam gồm 8 tỉnh, thành phố: Tiền Giang, Long An, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Nih và TP Hồ Chí Minh, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Khu vực này thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hàng đầu cả nước. FDI không những chi phối sự phát triển kinh tế - xã hội mà còn tác động đến chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực của vùng.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Quản lý/ 2016, Số 19, Tr.55-59

6. Đánh giá tình hình sử dụng phần mềm kế toán của các doanh nghiệp trên địa bàn các tỉnh trọng điểm kinh tế phía Nam/ Nguyễn Văn Dũng

Tóm tắt: Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin ngày nay, việc lựa chọn một phần mềm kế toán có tính năng ưu việt để đưa vào sử dụng, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp là một vấn đề hết sức quan trọng. Baaif nghiên cứu đánh giá lại những ưu, nhược điểm của các phần mềm kế toán phổ biến trên thị trường đang được các doanh nghiệp sử dụng. Đặc biệt là có sự so sánh phần mềm kế toán của Việt Nam sản xuất và phần mềm kế toán do nước ngoài sản xuất. Từ đó giúp cho các doanh nghiệp có được cái nhìn tổng thể, để có thể lựa chọn giải pháp tốt nhất, nhằm tăng năng suất và tiết kiệm chi phí. Đặc biệt là Việt Nam đang trong quá trình hội nhập toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin như hiện nay.

Nguồn trích: Tạp chí Kế toán và Kiểm toán/ 2017, Số 4, Tr.50-55

7. Thực trạng công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lí phòng giáo dục và đào tạo các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam/ Lê Thị Bình

Nguồn trích: Tạp chí Giáo dục/ 2016, Số 377, Tr.4-7

8. Tác động tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam/ Phạm Văn Hùng

Tóm tắt: Nghiên cứu này đánh giá tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và những tác động tích cực của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn 2009 - 2013. Kết quả nghiên cứu khẳng định thêm lý luận về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, để có thể góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương một trong những giải pháp quan trọng là cần phải cải thiện môi trường đầu tư, tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Kết quả nghiên cứu còn là cơ sơ cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách có cách nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam giai đoạn hiện nay.

Nguồn trích: Science & Technology Development/ 2015, Vol 18, No Q3, Tr. 18 - 29

9. Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - động lực phát triển kinh tế - xã hội của cả nước/ HoàngNgọc Phong

Tóm tắt: Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTDPN) có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Đây là vùng sớm nhất hội đủ các điều kiện và ưu thế để phát triển công nghiệp dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhiều năm qua, vùng được xem là phát triển năng động, bền vững và có mức tăng trưởng cao nhất luôn thể hiện vai trò là vùng kinh tế động lực của cả nước. Tuy nhiên, quá trình phát triển cũng đã làm bộc lộ một số vấn đề rất cơ bản, ảnh hưởng đến tính bền vững của vùng.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Dự báo/ 2012, Số 3, Tr. 50-53

10. Chợ truyền thống ở miền Đông Nam Bộ từ bao cấp đến đổi mới và hội nhập (1975-2016)/ Lê Quang Cần

Tóm tắt: Sau năm 1975, miền Nam nói chung, Đông Nam Bộ nói riêng chuyển từ kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa sang cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp dưới sự quản lý của Nhà nước trên mọi lĩnh vực. Hoạt động thương nghiệp ở miền Đông Nam Bộ bị tác động tiêu cực bởi chính sách "cải tạo tư bản tư doanh". Hệ thống chợ trong vùng giảm dần vai trò của mình với sự ra đời của hệ thống cửa hàng hợp tác xã thương nghiệp quốc doanh. Sau năm 1986, Việt Nam thực hiện cải cách kinh tế, chủ động hội nhập khu vực và thế giới; hệ thống chợ ở miền Đông Nam Bộ từng bước hồi sinh, nhiều chợ mới ra đời đáp ứng nhu cầu dân sinh và phát triển kinh tế, góp phần tích cực vào sự hình thành vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học xã hội TP. Hồ Chí Minh/ 2017, Số 7, Tr. 54-69

11. Vấn đề môi trường ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - Thực trạng và giải pháp/ Huỳnh Đức Thiện, Trần Hán Biên

Tóm tắt: Hiện nay, môi trường đang bị ô nhiễm nặng nề, nhất là môi trường đô thị và những vùng kinh tế trọng điểm. Bài viết này phân tích hiện trạng ô nhiễm nguồn nước, không khí, chất thải rắn trên địa bàn các tỉnh, thành phố thuộc vùng trọng điểm phía Nam; từ đó, đề xuất một số giải pháp thích hợp để phát triển kinh tế vùng bền vững, có sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và đảm bảo những tiêu chuẩn về môi trường.

Nguồn trích: Tạp chí Tạp chí Khoa học/ 2012, Số 4, Tr. 145-154

 



Tổng hợp: Võ Hồng Thơ