1. Thị trường lao động Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0Lê Thị Kim Triệu

Tóm tắt: Bài viết khái quát về thực trạng thị trường lao động Việt Nam, từ đó nhận diện thời cơ và thách thức do cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) đem lại. Qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp từ phía Nhà nước, cơ sở đào tạo và chính bản thân người lao động nhằm giúp người lao dộng đứng vững trong bối cảnh CMCN 4.0 đang bùng nổ.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Dự báo/ 2017, Số 33, Tr.18-21  

2. Cách mạng công nghiệp 4.0 với thị trường lao động Việt NamPhan Thế Công;Hồ Thị Mai Sương

Tóm tắt: Thuật ngữ công nghiệp 4.0 đã được sử dụng rất nhiều trong các nghiên cứu trên thế giới. Đây là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những dự đoán tác động đến mọi lĩnh vực trên toàn cầu, trong đó có lĩnh vực lao động và việc làm. Một số nghiên cứu cho rằng, lao động sẽ dễ dàng bị thay thế bằng máy móc trong công nghiệp 4.0 với nhiều hệ lụy khác nhau, đặc biệt đối với những ngành có khả năng tự động hóa cao. Bài viết sẽ sử dụng phương pháp phân tích định tính bằng cách thu thập số liệu thứ cấp nhằm trả lời câu hỏi liệu công nghiệp 4.0 có tác động đến nguồn lao động và nó sẽ tạo ra những cơ hội và thách thức gì cho phát triển lao động Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu cho thấy, công nghiệp 4.0 có tác động mạnh mẽ đến lao động và việc làm trên thế giới. Từ đó, nhóm tác giả đưa ra một số gợi ý định hướng phát triển cho nguồn nhân lực Việt Nam trong điều kiện công nghiệp 4.0.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi & Trung Đông/ 2018, Số 3, Tr.27-40   

3. Thị trường lao động chất lượng cao ở Thành phố Hồ Chí Minh/ Dương Tiến Hà My

Tóm tắt: Lao động, đặc biệt là lao động chất lượng cao góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời tạo ra lợi thế cạnh tranh cho địa phương và khu vực. Tuy nhiên, thị trường lao động của thành phố Hồ Chí Minh hiện nay vừa thừa, lại vừa thiếu. Hiện tượng này có thể sẽ tiếp diễn mạnh mẽ trong thời gian tới, với sự chuyển dịch cơ cấu giữa các khu vực kinh tế. Đề xuất được đưa ra là cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan, nhằm đảm bảo cung và cầu lao động không đi chệch hướng nhau.

Nguồn trích: Tạp chí Công thương/ 2019, Số 9, Tr.183-187       

4.  Bất bình đẳng giới trong thu nhập của người lao động ở Việt Nam/ Nguyễn Thái Hòa

Tóm tắt: Đánh giá mức độ bất bình đẳng giới trong thu nhập tiền lương của người lao động Việt Nam. Trong nghiên cứu này, phương pháp tách biệt Oaxaca được sử dụng để đo lường sự bất bình đẳng về thu nhập, dựa trên mẫu chọn học từ bộ số liệu điều tra khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2014. Kết quả cho thấy, mặc dù lao động nữ có các đặc tính năng suất tốt hơn lao động nam, làm việc với thời gian dài hơn nhưng lại nhận được thu nhập thấp hơn so với nam giới. Trên cơ sở, nghiên cứu đề xuất một số chính sách nhằm cải thiện tình trạng phân biệt đối xử và khác biệt giới trong thu nhập của người lao động trong khu vực làm công ăn lương nói riêng và trên thị trường lao động nói chung.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học xã hội TP. Hồ Chí Minh/ 2017, Số 6, Tr.10-24        

5. Chính sách tiền lương tại các doanh nghiệp nhà nước hiện nay: Thực trạng và giải phápNgô Thị Ngọc Anh

Tóm tắt: Phân tích quá trình đổi mới chính sách tiền lương và thực trạng tiền lương và thu nhập hiện nay của người lao động đã chỉ ra những điểm hạn chế của chính sách tiền lương tại các doanh nghiệp nhà nước hiện nay. Trên cơ sở đánh giá những hạn chế của chính sách tiền lương, nhằm xây dựng hệ thống tiền lương trong các doanh nghiệp nhà nước gắn chặt với hiệu quả công việc và vận động theo tín hiệu của thị trường lao động hiện nay.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Quản lý/ 2018, Số 27, Tr.39-43     

6.  Các nhân tố ảnh hưởng đến nỗ lực tìm kiếm việc làm của người lao động / Bạch Ngọc Thắng;Vũ Hoàng Đạt

Tóm tắt: Sử dụng số liệu điều tra lao động và việc làm trong năm 2015, bài viết phân tích ảnh hưởng của trình độ giáo dục, trong mối tương quan với giới tính và hoàn cảnh gia đình đến nỗ lực tìm kiếm việc làm của các cá nhân trên thị trường lao động. Kết quả thực nghiệm của nghiên cứu này cung cấp bằng chứng quan trọng cho chính sách lao động và việc làm ở Việt Nam, theo đó chính sách cần được thiết kế phù hợp để duy trì động lực tìm kiếm việc làm của người lao động, đặc biệt ở nhóm lao động có trình độ cao và đã qua đào tạo.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế/ 2018, Số 9, Tr.53-61      

7.  Chuyển đổi việc làm trong thị trường lao động nhập cư tại thành phố Đà LạtVũ Thị Thùy Dung

Tóm tắt: Sự khác biệt trong chuyển đổi việc làm của nhóm nhập cư so với nhóm dân địa phương mà không chỉ tạo nên sự sôi động của thị trường lao động việc làm ở Đà Lạt, mà còn khẳng định vai trò của dân nhập cư trong sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Nhóm lao động nhập cư trở thành nhóm năng động trong quá trình di động xã hội. Khác với nhiều nghiên cứu trước đó, bài viết chỉ ra vai trò của vốn xã hội tương đối mờ nhạt so với nhiều yếu tố khác như động cơ, mục đích di cư, học vấn của người nhập cư. Số liệu của bài viết được lấy từ cuộc khảo sát trên 600 người dân (bao gồm 200 người dân nhập cư ngắn hạn, 200 người dân nhập cư dài hạn, 200 người dân địa phương) tại 2 phường và 1 xã của thành phố Đà Lạt.

Nguồn trích: Tạp chí Xã hội học/ 2018, Số 3, Tr.19-30     

8. Các hàm ý tác động đến sự ổn định thị trường lao động phổ thông, góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh/ Lê Thị Vịnh

Tóm tắt: Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ của cả nước, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, có sức thu hút và lan tỏa lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chính trị - kinh tế - xã hội quan trọng của cả nước. Không ai có thể phủ nhận được tính đa dạng, nặng nhọc của lao động phổ thông, nhưng với kinh nghiệm thực tế, năng lực, chuyên môn giỏi, họ đã có những đóng góp nhất định cho nguồn thu phát triển kinh tế - xã hội từ các hoạt động nghề nghiệp: Thợ điện, thợ xây, lao động giúp việc nhà, công nhân các xí nghiệp,... Tuy nhiên, tình hình biến động của thị trường lao động phổ thông hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh rất đáng lo ngại. Bài viết nghiên cứu về vấn đề các hàm ý tác động đến sự ổn định thị trường lao động phổ thông, góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguồn trích: Tạp chí Công Thương/ 2018, Số 13, Tr.203-207        

9. Đánh giá về nguồn cung lao động Việt Nam trong thời kỳ hội nhậpPhạm Thị Hà AnThân Thị Việt Hà

Tóm tắt: Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả vững chắc trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đó là việc gia nhập tổ chức. Thương mại thế giới năm 2007 và tham gia 16 Hiệp định thương mại tự do (FTA). Đặc biệt, việc tham gia vào Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), FTA với Liên minh châu Âu (EU) và hình thành cộng đồng ASEAN (AEC) là một bước ngoặt quan trọng trong quá trình hội nhập của Việt Nam với kinh tế khu vực và thế giới. Thị trường lao động Việt Nam sẽ đứng trước cơ hội và thách thức, thể hiện điểm mạnh và điểm hạn chế. Bài viết này sẽ tập trung vào đánh giá nguồn cung lao động Việt Nam hiện nay và rút ra giải pháp nâng cao chất lượng lao động Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học/ 2018, Số 14, Tr.49-58     

10. Tình hình nhân lực Việt Nam hiện nay và các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực/ Nguyễn Ngọc Minh

Tóm tắt: Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, nước ta hiện nay có số người trong độ tuổi lao động trên tổng dân số chiếm tỷ lệ 76,45 phần trăm là nước đang ở giai đoạn "dân số vàng". Tuy nhiên, số lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ chiếm 21,60 phần trăm. Có thể thấy, chất lượng nhân lực ở nước ta còn thấp, cơ cấu lao động bất hợp lý, đang mất sức cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế, cần sớm có những giải pháp tháo gỡ. Bài viết phân tích về tình hình nhân lực Việt Nam hiện nay và các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Nguồn trích: Tạp chí Công Thương/ 2018, Số 5+6, Tr.220-224      

11. Tác động của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và chỉ số tập trung doanh nghiệp cấp huyện tới việc tham gia thị trường của lao động trẻ Việt Nam/  Phạm Minh Thái

Tóm tắt: Khai thác bộ số liệu điều tra chuyển tiếp từ trường học tới việc làm năm 2012 và 2015 của Tổng cục Thống kê, bài viết đã lần đầu tiên kiểm soát các yếu tố chính sách, cụ thể là các chỉ số thành phần trong chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, chỉ số đô thị hóa và chỉ số tập trung doanh nghiệp cấp huyện vào phân tích tác động tới kết quả tham gia thị trường của lao động trẻ Việt Nam. Kết quả ước lượng cho thấy các yếu tố làm tăng khả năng tham gia thị trường lao động của lao động trẻ ở Việt Nam bao gồm chỉ số gia nhập thị trường, chỉ số chi phí phi chính thức, chỉ số năng động cấp tỉnh và chỉ số tập trung doanh nghiệp cấp huyện. Ngược lại, những yếu tố làm giảm xác suất tham gia thị trường lao động của lao động trẻ là chỉ số minh bạch cấp tỉnh và chỉ số đô thị hóa.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế/ 2018, Số 11, Tr.22-32     

12. Một số đề xuất phát triển thị trường lao động Việt Nam khi Việt Nam đã gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)Hoàng Thị Đoan Trang

Tóm tắt: Sự gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối năm 2015 vừa tạo cơ hội cho thị trường lao động Việt Nam, đặc biệt với những người có tay nghề, chuyên môn cao; thúc đẩy nâng cao kỹ năng, năng suất lao động... đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức không nhỏ nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập. Bài viết phân tích thực trạng thị trường lao động Việt Nam, nghiên cứu cơ hội, thách thức đối với thị trường lao động, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục thách thức, tận dụng cơ hội để hội nhập hiệu quả vào nền kinh tế khu vực...

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế đối ngoại/ 2016, Số 79, Tr.3-12     

13. Một số giải pháp chính sách tác động đến thị trường lao động Việt NamVũ Thị Hồng Nết;Trần Thị Thanh

Tóm tắt: Bài báo trình bày vấn đề một số giải pháp chính sách tác động đến thị trường lao động Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương/ 2017,  Số 494, Tr.7-8 

14. Phát triển dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và hội nhập quốc tếNguyễn Hồng Minh

Tóm tắt: 18 năm qua, kể từ khi tái lập Tổng cục Dạy nghề, công tác dạy nghề đã từng bước được phục hồi và có bước phát triển vững chắc, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao cả về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực. Dạy nghề không chỉ cung ứng nhân lực lao động trực tiếp trong các lĩnh vực của nền kinh tế mà còn tham gia vào giải quyết nhiều vấn đề xã hội, góp phần vào việc thực hiện chiến lược an sinh xã hội của quốc gia, tạo điều kiện để đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng với các nước trong khu vực và thế giới.

Nguồn trích: Tạp chí  Khoa học Dạy nghề/ 2016, Số 33, Tr.1-5      

15. Thể chế thị trường lao động ở Việt Nam và sự chuẩn bị cho bối cảnh mớiNguyễn Tú AnhNguyễn Thu Thủy

Tóm tắt: Thị trường lao động được đánh giá là một trong những yếu tố quan trọng đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế và tốc độ phát triển của một quốc gia. Bài viết nghiên cứu thể chế thị trường lao động ở Việt Nam giai đoạn từ đầu những năm 1990 tới nay với nội dung xung quanh các chủ thể trên thị trường lao động, nhất là quan hệ lao động. Bài viết phân tích quá trình xây dựng thể chế trong lĩnh vực này, xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Nhà nước cho tới việc hoàn thiện hệ thống pháp luật. Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra những hạn chế còn tồn tại đối với thể chế thị trường lao động ở Việt Nam, nguyên nhân khách quan, chủ quan cũng như phương hướng khắc phục. Cuối cùng, bài viết xem xét những cơ hội và thách thức mà mà việc tham gia Hiệp định Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) mang lại cho Việt Nam và những vấn đề đặt ra để thực hiện tốt cam kết trong Hiệp định này.

Nguồn trích: Tạp chí  Kinh tế đối ngoại/ 2016, Số 81, Tr.28-48  

 

 

 

Tổng hợp: Võ Hồng Thơ