VietGAP (Vietnamese Good Agricultural Practices) gồm tiêu chuẩn/quy phạm quy định về thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho các sản phẩm nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản) ở Việt Nam; bao gồm những nguyên tắc, trình tự, thủ tục hướng dẫn các tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế đảm bảo sản phẩm an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khoẻ người sản xuất và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. 

Hiện nay, tiêu chuẩn VietGAP đang được ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả cao. Để thấy rõ hiệu quả của VietGAP mang lại, mời bạn đọc tham khảo các nghiên cứu được tổng hợp trên các tạp chí và kỷ yếu sau.

TÀI LIỆU IN CÓ TẠI THƯ VIỆN (Bản in được lưu tại Tầng 4)

1. Nâng cao giá trị sản phẩm nhờ sản xuất theo chuỗi giá trị và tiêu chuẩn VietGAP/ Lê Quốc Điền

Tóm tắt: Trước nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng về sản phẩm cây ăn quả chất lượng cao, an toàn và có thể truy xuất nguồn gốc, Dự án “Xây dựng mô hình sản xuất và liên kết chuỗi giá trị sản phẩm trong sản xuất bưởi và cam sành theo VietGAP tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long” đã được phê duyệt thực hiện. Kết quả, dự án đã xây dựng thành công 4 mô hình liên kết sản xuất bưởi và cam sành theo chuỗi giá trị và đạt tiêu chuẩn VietGAP, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đồng thời tạo hướng đi mới cho sản xuất nông nghiệp ở nước ta.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2020, số 8, tr.39-40

2. Nâng cao giá trị sản phẩm nhờ sản xuất theo chuỗi giá trị và tiêu chuẩn VietGAP/ Lê Quốc Điền

Tóm tắt: Trước nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng về sản phẩm cây ăn quả chất lượng cao, an toàn và có thể truy xuất nguồn gốc, Dự án “Xây dựng mô hình sản xuất và liên kết chuỗi giá trị sản phẩm trong sản xuất bưởi và cam sành theo VietGAP tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long” đã được phê duyệt thực hiện. Kết quả, dự án đã xây dựng thành công 4 mô hình liên kết sản xuất bưởi và cam sành theo chuỗi giá trị và đạt tiêu chuẩn VietGAP, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đồng thời tạo hướng đi mới cho sản xuất nông nghiệp ở nước ta.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2020, số 8A, tr.39-40

3. Kết quả thực hiện mô hình sản xuất lúa chất lượng cao theo hướng VietGAP với sự liên kết bốn nhà tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An/ Phan Thị Thu Hiền, Ngô Thị Mai Vi

Tóm tắt: Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng lúa gạo chất lượng cao ở Việt Nam và mới mong muốn hỗ trợ nông dân trồng lúa trên địa bàn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Tập đoàn TH và Trường Đại học Vinh đã phối hợp liên kết với nông dân và chính quyền địa phương để phát triển giống lúa chất lượng cao. Tập đoàn TH là đơn vị đầu tư nguồn kinh phí cho sản xuất và bao tiêu sản phẩm đồng thời tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả dự án. Trường Đại học Vinh trực tiếp khảo sát, điều tra và lựa chọn địa điểm triển khai dự án; tập huấn và chỉ đạo quy trình kỹ thuật canh tác lúa chất lượng cao. Chính quyền địa phương phối hợp trong việc giám sát và chỉ đạo, kiểm tra các biện pháp kỹ thuật canh tác mà người nông dân thực hiện; giao, bán sản phẩm lúa hàng hóa đúng theo quy cách về phẩm chất. Mô hình sản xuất lúa chất lượng cao theo hướng VietGAP được thực hiện trong vụ xuân 2017 tại 3 xã Yên Sơn, Thịnh Sơn và Hòa Sơn, qui mô 10 ha. Thông qua mối liên kết này người nông dân được tập huấn khoa học kỹ thuật, biết cách quản lý chăm sóc ruộng lúa tốt hơn. Môi trường đất, nước không bị ô nhiễm. Sản phẩm lúa do người dân làm ra đảm bảo an toàn được bao tiêu hết với giá thu mua cao hơn 1,4-1,5 lần so với bình thường, nâng cao thu nhập cho người nông dân.

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn/ 2019, số 12, tr.131-139

4. So sánh hiệu quả sản xuất giữa mô hình nuôi lươn (Monopterus albus) VietGap và nuôi thông thường ở An Giang/ Huỳnh Văn Hiền, Nguyễn Thị Ngân Hà, Nguyễn Hoàng Huy

Tóm tắt: Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 8/2017 đến tháng 04/2018 thông qua việc phỏng vấn 90 hộ nuôi lươn (45 hộ nuôi lươn VietGAP và 45 hộ nuôi lươn thông thường) bằng bảng câu hỏi có cấu trúc được soạn sẵn với phương pháp chọn hộ ngẫu nhiên. Mục tiêu của nghiên cứu này là so sánh hiệu quả kĩ thuật và tài chính của hai mô hình nuôi lươn để từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất của mô hình nuôi lươn tại An Giang. Tập 54, Số CĐ Thủy sản (2018) Trang: 191-198

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học - Đại học Cần Thơ/ 2018, tập 54, số  CĐ Thủy sản, tr.191-198

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

- Địa chỉ truy cập: http://sti.vista.gov.vn/ (Chọn CSDL Công bố KH&CN Việt Nam)

5. Hiệu quả sản xuất và tiêu thụ lúa gạo theo tiêu chuẩn VietGAP/ Vũ Anh Pháp, Nguyễn Hoàng Khải

Tóm tắt: Mô hình canh tác lúa theo tiêu chuẩn VietGAP tại 03 tiểu vùng sinh thái ngập lũ, phù sa ngọt, phèn ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nhằm đánh giá hiệu quả sản xuất và tiêu thụ lúa gạo cũng như hiệu quả môi trường. Mô hình trình diễn theo tiêu chuẩn VietGAP được tiến hành tại 03 Hợp tác xã (HTX) Tân Cường, Khiết Tâm và Phước Trung đại diện cho 03 vùng sinh thái của ĐBSCL. Mỗi Hợp tác xã thực hiện 01 mô hình có diện tích 01 ha (so sánh với ruộng 01 ha được canh tác theo tập quán nông dân), được áp dụng quy trình canh tác lúa theo tiêu chuẩn VietGAP, quản lý dịch hại tổng hợp IPM. Các chỉ tiêu sâu bệnh, năng suất, chi phí, lợi nhuận, dư lượng Cd, Pb, Clo, lân, cúc được thu thập và phân tích. Kết quả cho thấy cả 3 vùng sinh thái, mô hình VietGAP đều đạt hiệu quả kỹ thuật cao như sử dụng giống xác nhận, giảm lượng giống, phân bón, thuốc BVTV. Tuy năng suất không tăng nhưng chất lượng tăng, cộng với có liên kết sản xuất và tiêu thụ với doanh nghiệp nên 3 HTX đều đạt bán lúa cao hơn giá thị trường khoảng 200 đồng/kg nên đạt lợi nhuận cao hơn 2 triệu đồng/ha.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam/ 2020, số 9, tr.104-109

6. Đánh giá hiệu quả kinh tế và mức độ tuân thủ các tiêu chí VietGAP trong mô hình Tôm lúa tại huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre/ Dương Chính Cương, Nguyễn Đức Trung

Tóm tắt: Nghiên cứu đã phỏng vấn 120 nông dân đang sản xuất mô hình Tôm - Lúa truyền thống và Tôm - Lúa VietGAP tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Kết quả nghiên cứu đã xác định được mô hình Tôm - Lúa VietGAP có lợi nhuận cao hơn 18% so với mô hình Tôm - Lúa truyền thống đạt 35.786.000 đồng/ha/năm. Sự khác biệt chủ yếu về lợi nhuận là từ hoạt động sản xuất lúa. Các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến lợi nhuận mô hình Tôm - Lúa VietGAP là diện tích đất sản xuất, trình độ học vấn, việc tuân thủ các tiêu chí VietGAP và số lao động tham gia sản xuất của nông hộ. Các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến lợi nhuận mô hình Tôm - Lúa truyền thống là diện tích đất sản xuất, chất lượng lúa giống, kinh nghiệm và nông dân tham gia tập huấn. Kết quả nghiên cứu cũng đã xác định có khoảng 25% nồng hộ chưa thực hiện đầy đủ các tiêu chí VietGAP. Yêu cầu lợi nhuận cao hơn, dễ bán hơn, bán giá cao hơn 12,5% so với lúa truyền thống khi tham gia sản xuất mô hình Tôm - Lúa VietGAP. 

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam/ 2020, số 7, tr.118-126

7. So sánh hiệu quả sản xuất giữa mô hình nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng thông thường và VietGAP ở Sóc Trăng/ Huỳnh Văn Hiền, Đặng Thị Phượng, Nguyễn Thị Kim Quyền, Lê Nguyễn Đoan Khôi, Nobuyuki Yagi

Tóm tắt: Kết quả nghiên cứu cho thấy những hộ nuôi theo VietGAP có qui mô nhỏ hơn (8.189 m) so với hộ nuôi thông thường. Mật độ nuôi, thời gian nuôi và FCR không có sự khác biệt giữa hai mô hình. Năng suất tôm ở mô hình VietGAP là 6,1 tấn/ha/vụ, cao hơn mô hình nuôi thông thường (5,3 tấn/ha/vụ). Chi phí sản xuất cho mô hình VietGAP (466 triệu đóng ha/vụ) cũng cao mô hình thông thường (398 triệu đồng/ha/vụ) nhưng mang lại lợi nhuận cao hơn (192 so với 157 triệu đóng/ha/vụ), khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,5) và tỉ suất lợi nhuận của hai mô hình là bằng nhau (0,4 lần). Mô hình nuôi tôm theo tiêu chuẩn VietGAP cần được được khuyến khích và nhân rộng vì quản lý tốt các chỉ tiêu kỹ thuật và có tiềm năng mang lại hiệu quả tài chính nhờ vào sản xuất tôm với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và tạo tiến để để chuyển đổi sang các chứng nhận được quốc tế công nhận, đặc biệt là ASC.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học công nghệ nông nghiệp Việt Nam/ 2020, Số 1, tr.97-101

8. Sản xuất VietGap: hướng phát triển bền vững cho cây quýt tại huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn/ Nguyễn Bích Hồng, Phạm Thị Hồng

Tóm tắt: Trong những năm gần đây, huyện Bạch Thông đã phát triển diện tích trồng quýt mới, tập trung thâm canh tăng năng suất theo hướng VietGap, hướng tới phát triển sản xuất quýt bền vững. Để đánh giá được thực trạng phát triển sản xuất quýt tại huyện Bạch Thông, nghiên cứu đã tiến hành thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp về tình hình sản xuất quýt tại địa phương trong giai đoạn 2014-2018. Số liệu sơ cấp được thu thập từ 80 hộ sản xuất quýt theo tiêu chuẩn VietGap và 150 hộ sản xuất theo phương thức truyền thống. Các phương pháp phân tích thông tin như: thống kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích dãy số thời gian đã được áp dụng trong nghiên cứu. Kết quả phân tích cho thấy sản xuất quýt theo tiêu chuẩn VietGab đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn và hiệu quả môi trường tốt hơn so với phương thức sản xuất không theo tiêu chuẩn an toàn.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương/ 2019, số 542, tr.37-39

9. Hiệu quả kinh tế sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông/ Đỗ Thị NgaDoãn Gia Lộc

Tóm tắt: Bài viết sử dụng nguồn số liệu thứ cấp và nguồn số liệu sơ cấp được thu thập từ các hộ nông dân để đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP trên địa bàn huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiệu quả kinh tế sản xuất lúa VietGAP cao hơn lứa truyền thống; hiệu quả kinh tế sản xuất lúa VietGAP có sự khác biệt theo quy mô diện tích và theo mùa vụ. Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa VietGAP ở huyện Krông Nô bao gồm tăng cường ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lúa, tăng cường công tác khuyến nông, mở rộng quy mô sản xuất, phát triển thị trường và tăng cường liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Tây Nguyên)/ 2018, số 2, tr.45-53

10. Hiệu quả kinh tế sản xuất Thanh long theo tiêu chuẩn VietGap ở huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận - Thực trạng và giải pháp/ Trần Thị Thu Hà, Nguyễn Ngọc Phụng

Tóm tắt: Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả kinh tế sản xuất thanh long theo hướng vietgap cao hơn sản xuất thanh long truyền thống và các loại cây trồng khac. Tuy nhiên, các hộ trồng thanh long phải đối mặt với nhiều khó khăn về chi phí sản xuất, cơ sở hạ tầng, thị trường và kỹ thuật trong việc mở rộng quy mô và đảm bảo chất lượng sản phẩm.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp/ 2017, số 4, tr.152-161

 Tổng hợp: Hữu Nghị