Có thể hiểu, Bảo hiểm nông nghiệp là bảo hiểm phi nhân thọ có đối tượng bảo hiểm là các rủi ro phát sinh trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn, bao gồm những rủi ro gắn liền với: cây trồng, vật nuôi, vật tư, hàng hóa, nguyên liệu nhà xưởng.

 1. Female autocrats as role models? The effect of female leaders on political knowledge and engagement in Vietnam/ Paul Schuler

Abstract: Research shows that the presence of more female politicians can reduce gender gaps in political knowledge. Despite these findings, no study examines whether the role model effect applies to autocracies. This is an important oversight given the role political knowledge plays in increasing the use of non-electoral forms of accountability. To test whether female political role models increase knowledge in autocracies, this study uses unique survey data from Vietnam occurring before and after a leadership change. In the transition, all the top leaders changed from males to male except for legislative speaker, which transitioned from male to female. Results show that her selection increased name recognition for her position at a higher rate compared to men and that women were more likely to pay attention to legislative proceedings after her selection. These findings suggest that efforts to push gender equity in autocratic leadership positions may be useful. 

Linkhttps://static1.squarespace.com/static/5b1bf8b6f2e6b18447c9e78c/t/5b4289e803ce641f98056ded/1531087337745/Schuler+Gender+Knowledge+Vietnam.pdf

Nông nghiệp Việt Nam có vai trò rất lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước. Đây là khu vực thu hút trên 70% lực lượng lao động xã hội và đóng góp khoảng 22% GDP của đất nước.

1. Các nữ thần Việt Nam/ Đỗ Thị Hảo, Mai Thị Ngọc Chúc. - 1st. - Hà Nội: Phụ nữ, 2001

Tóm tắt: Nói về các vị nữ tướng đã hy sinh vì nghĩa lớn của dân tộc; những kỳ nữ đã khai dân lập ấp, truyền thụ các tri thức ngành nghề; những bà mệ, người vợ, người chị đã có tài năng này hay đức hạnh khác.

Số phân loại: 895.9223081/H108/2001

1. Thị trường lao động Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0Lê Thị Kim Triệu

Tóm tắt: Bài viết khái quát về thực trạng thị trường lao động Việt Nam, từ đó nhận diện thời cơ và thách thức do cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) đem lại. Qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp từ phía Nhà nước, cơ sở đào tạo và chính bản thân người lao động nhằm giúp người lao dộng đứng vững trong bối cảnh CMCN 4.0 đang bùng nổ.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Dự báo/ 2017, Số 33, Tr.18-21  

Hiện nay, tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long có xu thế gia tăng cả về phạm vi và quy mô. Tại nhiều khu vực, sạt lở đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân, tác động tiêu cực đến phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng ven sông, ven biển. Vì vậy, công tác phòng chống sạt lở là vấn đề vô cùng cấp thiết và cần có giải pháp phù hợp.

Để có cái nhìn tổng quan về vấn đề này, Thư viện mời các bạn tham khảo một số nghiên cứu được tổng hợp từ các kỷ yếu, tạp chí, hội thảo sau đây. Mời các bạn cùng tham khảo!

 TÀI LIỆU IN CÓ TẠI THƯ VIỆN (Bản in được lưu tại Tầng 4)

1. Phòng chống sạt, lở tại Đồng bằng sông Cửu Long/ Nguyễn Văn Vĩnh 

Tóm tắt: Tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển đe dọa đến sự an toàn của người dân diễn ra ngày càng nghiêm trọng ở nhiều nơi tại Đồng bằng Sông Cửu Long. Tình trạng khẩn cấp đã được ban bố ở khu vực này. Các cấp, ngành cần nhanh chóng có các giải pháp hữu hiệu phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển khu vực này.

Nguồn trích: Tạp chí Tài nguyên và môi trường/ 2018, số 11, tr.38

2. Đê trụ rỗng - Giải pháp mới ngăn sạt lở bờ biển/ Trần Văn Thái, Nguyễn Hải Hà, Phạm Đức Hưng, Nguyễn Duy Ngọc

Tóm tắt: Trong những năm gần đây, tình hình sạt lở bờ biển ở Đồng bằng sông Cửu Long diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Mức độ ảnh hưởng sạt lở năm sau cao hơn năm trước, đe dọa đến sự an toàn của tuyến đê biển. Trước tình hình đó, nhiều giải pháp công trình bảo vệ bờ biển (kè bằng vật liệu tràm, tre, kè bản nhựa, kè rọ đá, kè ngầm tạo bãi...) đã được thực hiện và khắc phục một phần hiện tượng sạt lở, tuy nhiên hiệu quả chưa cao. Giới thiệu một giải pháp công nghệ mới - đê trụ rỗng giảm sóng, gây bồi bảo vệ bờ biển lần đầu tiên được nghiên cứu và áp dụng ở Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Công nghệ Việt Nam/ 2018, số 9, tr.36-38

3. Huy động sức dân trong công tác ứng phó, khắc phục sự cố thiên tai/ Nguyễn Văn Bình

Tóm tắt: Mùa mưa bão sắp đến gần theo nhận định của cơ quan dự báo khí tượng thủy văn thì tình hình thời tiết, khí hậu diễn biến phức tạp cả về tần suất và cường độ. Các dạng thời tiết cực đoan như: Bão mạnh, mưa lũ lớn, sạt lở đất, lũ quét ... sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sản xuất, nhất là sinh mạng của người dân. Vì vậy, có các giải pháp hữu hiệu, bài học kinh nghiệm trong ứng phó, phòng chống là hết sức cần thiết.

Nguồn trích: Tạp chí Tài nguyên và môi trường/ 2018, số 10, tr.37-38

4. Giải pháp phòng chống sạt lở đất đá, xói lở bờ biển, bờ sông/ Nguyễn Văn Mạnh

Tóm tắt: Những năm gần đây, hiện tượng xói lở bờ sông, biển, lũ, lũ quét gây sạt lở đất đá ở nước ta diễn ra mạnh mẽ ảnh hưởng đến sinh mạng, tài sản của nhân dân. Trước thực trạng đó, cơ quan quản lý, người dân địa phương cần nhanh chóng có các giải pháp hữu hiệu phòng, chống ngăn chặn tình trạng này.

Nguồn trích: Tạp chí Tài nguyên và môi trường/ 2018, số 19, tr. 50-51

5. Phòng chống lũ, sạt lở bờ sông, xói lở bờ biển Đồng bằng sông Cửu Long/ Nguyễn Ngọc Quang

Tóm tắt: Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất rộng lớn chiếm 12% diện tích, 19% dân số cả nước, mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc; có lợi thế về phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, du lịch, năng lượng tái tạo; là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam... Tuy nhiên, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, phát triển cơ sở hạ tầng, khai thác cát ở thượng nguồn, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang bị sói lở, xâm nhập mặn, ngập lụt, làm chậm quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Nguồn trích: Tạp chí Tài nguyên và môi trường/ 2018, số 17, tr. 43-44

6. Cà Mau khắc phục tình trạng sạt lở, nước biển dâng/ Nguyễn Thị Mai 

Tóm tắt: Trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long thì tỉnh Cà Mau là vùng chịu tác động của BĐKH nghiêm trọng nhất, là tỉnh duy nhất chịu tác động của cả 2 chế độ thủy triều Biển Đông và Biển Tây. Nước biển dâng gây nên tình trạng sạt lở ven biển, các cửa sông lớn, nhấn chìm phần lớn hệ thống các cơ sở hạ tầng của tỉnh. Chính quyền và nhân dân trong tỉnh đã nhanh chóng có các giải pháp phòng ngừa, ứng phó.

Nguồn trích: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường / 2017, số 12, tr.44-45

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

- Địa chỉ truy cập: http://sti.vista.gov.vn/ (Chọn CSDL Công bố KH&CN Việt Nam)

7. Giải pháp bảo vệ bờ sông, kênh rạch đồng bằng sông Cửu Long theo hướng công trình mềm, sinh thái, thân thiện với môi trường/ Cù Ngọc Thắng, Châu Nguyễn Xuân Quang, Trịnh Công Vấn

Tóm tắt: Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang phải đối diện với tình hình diễn biến sạt lở bờ sông, kênh rạch xảy ra trên diện rộng, ngày một phức tạp và nghiêm trọng, gây thiệt hại không nhỏ về đất đai, nhà cửa, tài sản của nhân dân, cơ sở hạ tầng, công trình công cộng xây dựng hai bên bờ sông, kênh rạch. Bài báo tổng quan một số giải pháp công nghệ mới theo hướng công trình mềm, sinh thái, thân thiện với môi trường, được đề xuất áp dụng trong công tác bảo vệ bờ. Kết quả triển khai thí điểm mô hình công trình mềm ở Tiền Giang năm 2014 và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017 đã chứng tỏ tính khả thi của giải pháp vì chi phí thấp, thi công đơn giản, kết cấu bền vững và thân thiện với môi trường. Giải pháp này có thể áp dụng rộng rãi ở các địa phương trong khu vực ĐBSCL với các điều kiện tương tự.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng/ 2018, Số 5, tr.67-70

8. Kết quả bước đầu đánh giá hiệu quả giảm sóng của cấu kiện lăng trụ mặt bên khoét lỗ rỗng tròn/ Lê Thanh Chương, Trần Bá Hoằng

Tóm tắt: Tình trạng sạt lở bờ biển, suy thoái rừng ngập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang diễn ra rất phức tạp và ngày một gia tăng. Một trong những nguyên nhân chính là do sóng biển, nước biển dâng... gay ra. Để ngăn chặn sạt lở, khôi phục lại rừng ngập mặn dải ven biển Đồng bằng sông Cửu Long, đã có nhiều dạng công trình bảo vệ trực tiếp, công trình giảm sóng gây bồi xa bờ, mặc dù nhiều công trình đã mang lại hiệu quả tốt, xong khả năng nhân rộng còn rất hạn chế, do thiếu cơ sở khoa học. Với mục đích đánh giá hiệu quả giảm sóng của cấu kiện lăng trụ mặt bên khoét lỗ rỗng tròn, làm cơ sở cho việc tính toán thiết kế đê ngầm giảm sóng bằng cấu kiện, tác giả đã tiến hành thí nghiệm mô hình vật lý trên bể sóng của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi/ 2017, số 41, tr.46-52

9. Đánh giá tính hiệu quả của Rhizophora apiculta và Nypa fruticans trong giảm sóng do tàu thuyền gây ra/ Lã Vĩnh Trung

Tóm tắt: Sóng tàu có khả năng gây mất ổn định và sạt lở bờ sông, đặc biệt ở những nơi có mật độ giao thông thủy tấp nập. Trong khi đó, hệ thực vật ven bờ lại có khả năng bảo vệ bờ khỏi mối đe dọa này. Chuyến khảo sát được thực hiện ở tỉnh Cà Mau, Việt Nam nhằm phục vụ cho việc đánh giá khả năng tiêu sóng của hai loài thực vật, Rhizophora apiculata, một loài thuộc họ Đước với bộ rễ chống đặc biệt, và Nypa fruticans, loài dừa nước, qua đó làm sáng rõ sự tương tác giữa sóng tàu và rừng cây ben bờ. Kết quả cho thấy, cả Rhizophora apiculta và Nypa fruticans đều đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu sóng, và do đó, có khả năng bảo vệ bờ. Điểm đáng chú ý là chiều cao sóng có thể giảm hơn 50 phần trăm ngay sau khi sóng lan truyền trong rừng cây một đoạn ngắn. Hệ số rỗng thực vật có ảnh hưởng rất lớn đến sự suy giảm sóng. Kết quả cũng cho thấy loài Rhizophora apiculta tiêu sóng hiệu quả hơn Nypa fruticans mặc dù hệ số rỗng lớn hơn. Cấu trúc bộ rễ đặc biệt của Rhizophora apiculta giúp sinh ra lực cản lớn hơn. Cấu trúc bộ rễ đặc biệt của Rhizophora apiculta giúp sinh ra lực cản lớn hơn có thể là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này. 

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi/ 2016, số 36, tr.112-119

10. Góp phần xác định nguyên nhân sạt lở bờ sông Tiền và sông Sài Gòn bằng các khảo sát địa vật lý gần mặt đất/ Lê Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Giảng

Tóm tắt: Phân tích tổng hợp các tài liệu đo vẽ bằng địa vật lý và địa chất đã đưa ra những mặt cắt cấu trúc địa chất tầng nông chi tiết với độ chính xác cao. Kết quả nghiên cứu này đã góp phần làm sáng tỏ cấu trúc dưới mặt đất đường bờ với việc xác định các ranh giới giữa những lớp trầm tích, các lăng kính chứa nước, các đụn cát được hình thành qua nhiều giai đoạn khác nhau, góp phần quan trọng trong việc dự báo sạt lở đất và làm tiền đề cho các luận điểm về tích tụ trầm tích vùng bờ sông Tiền, bờ sông Sài Gòn,...

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học về trái đất/ 2012, số 34 (2), tr.205-216

     1. Potentiality of Vietnam green seaweed for bioethanol production/ Vo Thanh Trung, Le Nhu Hau, Nguyen Thanh Hang

Abstract: The Paris Conference on Climate Change in 2015 called on all nations to work together to reduce climate change. The producing biofuels from seaweed biomass is a potential research to contribute to reducing climate change. In Vietnam, green seaweed is a large biomass source, their suitable for ethanol production. This is a solution to create clean fuels, reducing environmental pollution and increase economic benefits for the coastal people. Therefore this review article provides an overall perspective required for the composition of species, the aquaculture, the chemical composition and the process of saccharification and fermentation to produce ethanol from green seaweeds.

Hiện nay, tình trạng xả thải rác bừa bãi xảy ra ở nhiều nơi, từ nông thôn cho đến thành thị. Đây thật sự là bài toán nan giải. Vấn đề này đặt ra có lẽ không mới, bởi từ nhiều năm nay, nó đã được đưa ra mổ xẻ, bàn luận, tìm giải pháp, song trên thực tế, dường như chưa được cải thiện là bao. Vấn đề chính là ý thức và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng.

Sau đây, Thư viện gửi đến các bạn một số nghiên cứu từ các tạp chí nói về vấn đề giáo dục và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho đối tượng học sinh và sinh viên.

Mời các bạn cùng tham khảo!

TÀI LIỆU IN CÓ TẠI THƯ VIỆN (Bản in được lưu tại Tầng 4)

1. Giáo dục trách nhiệm xã hội về bảo vệ tài nguyên môi trường cho sinh viên / Lê Thị Thùy Dung

Tóm tắt: Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên là hoạt động không thể thiếu trong hệ thống giáo dục các trường đại học. Giáo dục trách nhiệm xã hội về bảo vệ tài nguyên môi trường là nền tảng của giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành tài nguyên môi trường. Bởi vì giáo dục trách nhiệm xã hội về bảo vệ tài nguyên môi trường sẽ định hướng giá trị, điều chỉnh hành vi nghề nghiệp, nâng cao ý thức trách nhiệm, hình thành và bồi dưỡng lý tưởng nghề nghiệp cho sinh viên ngành tài nguyên môi trường.

Nguồn trích: Tạp chí Tài nguyên và môi trường / 2019, số 4, tr.47-48

2. Phát triển năng lực bảo vệ môi trường cho học sinh trung học cơ sở qua trải nghiệm / Nguyễn Hồng Thuận

Tóm tắt: Trong bối cảnh môi trường sống trên hành tinh của chúng ta đang bị xâm hại và ô nhiễm nghiêm trọng, giáo dục môi trường được xem là một trong những biện pháp có hiệu quả cao và bền vững, vì nó giúp con người có được nhận thức đúng đắn và thực hiện một cách có ý thức các nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Ngành Giáo dục đã có nhiều cố gắng trong việc tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào trong nhà trường. Ở cấp Trung học cơ sở, kiến thức về môi trường và biến đổi khí hậu cũng đã được đưa vào một số môn học, như: Địa lí, Sinh học; Công nghệ, giáo dục công dân,... và thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, kết quả đạt được trên thực tế còn chưa như mong đợi. Điều này thể hiện ở cả phương diện ý thức, hành vi của một bộ phận học sinh. Do cách tổ chức giáo dục theo kiểu truyền thống nâng cao nhận thức qua các buổi sinh hoạt dưới cờ, học các giờ học không mang tính trải nghiệm, không thể đem đến cho học sinh những cảm xúc và năng lực hành động bảo về môi trường? Do vậy, công tác giáo dục môi trường phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực hành để khi gặp phải những vấn đề thực tiễn có thể vận dụng một cách sáng tạo những kiến thức, kỹ năng đã được trang bị để giải quyết nó. Đồng thời, giúp các em có ý thức, biết đánh giá và cảm nhận về tác động đối với môi trường trong mỗi hành động của mình.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam / 2018, số 10, tr.66-70

3. Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học ở Việt Nam / Nguyễn Việt Thanh

Tóm tắt: Việt Nam cần đẩy mạnh giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho mọi người dân, đặc biệt là lứa tuổi học sinh còn đang ngồi trên ghế nàh trường thông qua thực hiện đồng bộ các giải pháp: đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, phương pháp và kỹ băng giảng dạy cho đội ngũ giáo viên; đổi mới nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh lồng ghép với các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh tiểu học trong việc học tập và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam/ 2016, số 11, tr.88-94

4. Tích hợp nhiệm vụ giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua việc dạy học môn hóa học ở trường trung học phổ thông / Nguyễn Thị Bích Hiền, Hoàng Danh Chiến

Tóm tắt: Nghiên cứu sử dụng chương trình hóa học phổ thông để giải thích cho học sinh hiểu các hiện tượng tự nhiên và vấn đề môi trường trong cuộc sống. Qua đó lồng ghép các nội dung liên quan đến môi trường vào bài tập hóa học.

Nguồn trích: Tạp chí Giáo dục / 2016, số 378, tr. 47-49,59

5. Giáo dục ý thức năng lượng và môi trường cho học sinh trong dạy các môn kĩ thuật nghề nghiệp / Nguyễn Văn Tuấn

Tóm tắt: Bài viết phân tích mối quan hệ cơ bản giữa môi trường và năng lượng. Từ đó giúp xác định phương pháp và hàm lượng dạy về lý thuyết kỹ thuật và kỹ thuật thực hành.

Nguồn trích: Tạp chí Giáo dục / 2013, số 309, tr. 27-28, 39

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

- Địa chỉ truy cập: http://sti.vista.gov.vn/ (Chọn CSDL Công bố KH&CN Việt Nam)

6. Sự cần thiết của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho thanh niên ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang / Ngô Thị Lan Anh, Võ Văn Trí

Tóm tắt: Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang được coi là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kĩ thuật của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Quá trình tăng trưởng phát triển Kinh tế - Xã hội của thành phố đã có tác động không nhỏ tới môi trường sinh thái, đặc biệt nạn ô nhiễm môi trường đang diễn ra ngày càng phức tạp với mật độ dày ở tất cả khu vực của thành phố. Bảo vệ môi trường sinh thái hơn bao giờ hết đang là nhiệm vụ cấp bách đối với mọi người dân. Muốn bảo vệ được môi trường, chúng ta phải bắt đầu bằng việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường mà trước hết là đối với thanh niên. Bởi đây là bộ phận quan trọng, đóng góp vào việc bảo vệ môi trường ngày càng trở nên xanh, sạch, đẹp, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại và hướng tới tính nhân văn cao cả.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ (Đại học Thái Nguyên) / 2018, số 3, tr.67-71

7. Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non thông qua hoạt động ngoài trời / Trần Thị Thùy Trang

Tóm tắt: Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là cung cấp cho trẻ những kiến thức sơ đẳng về môi trường, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ nhằm tạo ra thái độ, hành vi đúng đắn của trẻ đối với môi trường xung quanh. Giáo dục bảo vệ môi trường không phải là một môn học mà rõ là một nội dung được tích hợp vào tất cả các hoạt động trong ngày của trẻ theo các chủ đề. Trong đó, hoạt động ngoài trời có ý nghĩa đặc biệt đối với việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ. Bởi thông qua đó, trẻ được tiếp xúc, gần gũi với thiên nhiên, hít thở bầu không khí trong lành nên dễ hình thành lòng yêu thiên nhiên và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ. Trong bài tham luận này, chúng tôi đề cập đến ý nghĩa của hoạt động ngoài trời, cách thức tổ chức hoạt động ngoài trời và đưa ra một số ví dụ cụ thể để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ ở trường mầm non. 

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Tây Nguyên) / 2016, số 18, tr.93-97

8. Phát triển kĩ năng bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo / Nguyễn Hồng Thuận 

Tóm tắt: Giáo dục môi trường là biện pháp có hiệu quả cao và bền vững, giúp mỗi cá nhân có được nhận thức đúng đắn và thực hiện một cách có ý thức các nhiệm vụ bảo vệ môi trường

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Giáo dục / 2017, Số 138, tr.51-55

9. Phát huy tính chủ động của học sinh tiểu học ở Việt Nam trong việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường / Nguyễn Việt Thanh 

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học ở nhà trường còn nhiều hạn chế, bất cập; tác động của nhà trường và gia đình đến nhận thức, thái độ và hành vi bảo vệ môi trường của học sinh; bản thân học sinh tiểu học thiếu ý thức là một trong những nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường...Bài viết cũng nêu ra một số giải pháp phát huy tính chủ động của học sinh trong việc học tập, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường hiện nay ở nước ta.

Nguồn trích: Tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội / 2016, số 7, tr.55-64

10. Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học / Nguyễn Thị Nga 

Tóm tắt: Bài viết là trích sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên trường tiểu học chia sẻ một số kinh nghiệm lồng ghép giúp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh.

Nguồn trích: Tạp chí Giáo dục Thủ đô / 2014, số 60, tr.19-20

Hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp là xu thế tất yếu của thời đại. Nó không chỉ tạo ra sản lượng cao mà còn đem lại giá trị kinh tế cao của nông sản làm ra.

Ngành nông nghiệp Việt Nam mặc dù đang phát triển nhưng vẫn còn sản xuất theo hình thức nhỏ lẻ và mang tính truyền thống. Vì vậy, sự hợp tác, liên kết trong ngành càng cần thiết hơn bao giờ hết.

Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, mời quý bạn đọc tham khảo các bài nghiên cứu sau đây.

Nông nghiệp hữu cơ hay còn gọi canh tác hữu cơ là một hệ thống nông nghiệp luân canh có nguồn gốc từ thế kỷ XX ra đời trong sự thay đổi nhanh chóng các hệ thống canh tác trên thế giới. Nông nghiệp hữu cơ liên tục được phát triển bởi tổ chức Nông nghiệp hữu cơ khác nhau cho đến ngày hôm nay. Canh tác này chủ yếu dựa vào phân bón có nguồn gốc hữu cơ như phân từ gia súc gia cầm, phân xanh, phân trộn, bột xương, … tăng độ phì cho đất bằng nhóm cây trồng có tác dụng cải tạo đất. Nhấn mạnh vào các kỹ thuật luân canh giống cây trồng, kiểm soát dịch hại sinh học, sử dụng xen canh cây trồng khắc chế dịch hại hoặc khuyến khích sự tồn tại động vật là thiên địch của sâu bệnh dịch hại.

Tình hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam cũng đang phát triển mạnh mẽ và ngày càng được nhân rộng. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, mời quý bạn đọc tham khảo các bài nghiên cứu sau đây.