TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ
1.Thực trạng thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp tại các trường đại học Việt Nam hiện nay = Current status of promoting innovation and entrepreneurship activities at Vietnamese universities / Hứa Thị Tường Vi; 

Tóm tắt: Đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp hiện nay đã trở thành một trào lưu trong cộng đồng và trở thành chủ đề được nhắc tới thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cùng với sự bùng nổ của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, xu hướng khởi nghiệp sáng tạo đã và đang phát triển mạnh mẽ trong đời sống của chúng ta, đặc biệt học sinh, sinh viên là lực lượng quan trọng góp phần trong phát triển kinh tế - xã hội của quê hương, đất nước. Các trường Đại học, Cao đẳng là môi trường thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của sáng tạo học sinh, sinh viên, hình thành văn hóa khởi nghiệp.

Nguồn trích: Tạp chí Dạy và học ngày nay - 2022 - no.4 - tr.73-74 - ISSN.1859-2694

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

1.Xây dựng mô hình tổ chức chuyển giao công nghệ trong trường đại học tại Việt Nam: nghiên cứu trường hợp mô hình Trung tâm Chuyển giao công nghệ - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội = Building technology transfer organizations in universities: the case study from hanoi University of Science and Technology Nguyễn Thu Hương; Nguyễn Quốc Anh; Lê Minh Thắng; Nguyễn Trung Dũng; Phạm Tuấn Hiệp; Nguyễn Thị Diệp Hồng;

Tóm tắt: Chuyển giao công nghệ từ trường đại học không chỉ trực tiếp mang lại lợi ích kinh tế cho các trường đại học mà còn là một trong những yếu tố tiên quyết góp phần vào chất lượng tăng trưởng kinh tế của các quốc gia. Hoạt động chuyển giao công nghệ thường được thực hiện qua các kênh chuyển giao chính thống thông qua các tổ chức trung gian đảm nhận nhiệm vụ xúc tiến chuyển giao công nghệ nằm trong các trường đại học. Tuy nhiên, trên thế giới, hình thức chuyển giao này được vận hành dưới nhiều cơ chế và mô hình tổ chức khác nhau. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu tổng hợp khung phân tích về việc tổ chức mô hình trung tâm chuyển giao công nghệ trong trường đại học tại Việt Nam, cụ thể gắn với trường hợp mô hình dự kiến của Trung tâm Chuyển giao công nghệ thuộc trường Đại học Bách Khoa Hà Nội (BK TTO). Dựa trên nội dung kết quả ba cuộc phỏng vấn sâu với nhà quản lý cao cấp của trường Đại học Bách khoa Hà Nội và BK TTO, và tài liệu thứ cấp, nghiên cứu chỉ ra rằng BK TTO được kỳ vọng vận hành như một đơn vị cấp hai  tương đương với vị trí của các phòng ban chức năng, khoa, viện, trung tâm  nghiên cứu thuộc nhà trường và được kết hợp với BK Holdings là doanh nghiệp thuộc trường đại học. Trong mô hình đó, nhà trường cung cấp kinh phí, cơ sở vật chất, BK Holdings quản lý thông qua hợp đồng vận hành với nhà trường.

Nguồn trích: Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế - 2022 - no.143 - tr.30-43 - ISSN.2615-9818

2.Giải pháp nâng cao vai trò của nghiên cứu khoa học đối với giảng viên và trường đại học = Measures to enhance the role of scientific research for teachers and universities Dương Thị Thuý Hằng; Nguyễn Thùy Linh; Vũ Ngọc Long;

Tóm tắt: Nghiên cứu khoa học ở các trường đại học không chỉ giúp giảng viên có cơ hội cập nhật kiến thức, tăng thêm thu nhập mà còn còn giúp các trường đại học nâng cao chất lượng đào tạo và thương hiệu uy tín của trường đại học. Nói cách khác, nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ then chốt của giảng viên và trường đại học cần quan tâm. Có như vậy, trường đại học mới trở thành nôi nghiên cứu, phát minh khoa học của xã hội. Do đó, việc đánh giá đúng vai trò của nghiên cứu khoa học đối với giảng và trường đại học có ý nghĩa cả về lý luận, thực tiễn và khoa học. Đây cũng là mục tiêu của bài viết muốn chỉ ra được các vai trò quan trọng của nghiên cứu khoa học đối với giảng viên, đối với các trường đại học đồng thời chỉ ra những hạn chế, khó khăn hiện tại làm giảm đi vai trò của nghiên cứu khoa học hiện nay, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường đại học nhằm đưa nghiên cứu khoa học trở lại đúng vai trò của mình.

Nguồn trích: Tạp chí Quản lý Giáo dục - 2022 - no.3 - tr.71-75 - ISSN.1859-2910


3.Nhân tố ảnh hưởng đến thương mại hóa tài sản trí tuệ trong trường đại học = Factors affecting commercialization of intellectual property in universities Bành Quốc Tuấn; Nguyễn Thị Thái Hà;

Tóm tắt: Với đội ngũ nhân lực dồi dào được đào tạo chuyên môn sâu, các trường đại học được xem là nơi khởi nguồn sáng tạo ra tri thức mới và công nghệ tiên phong của một quốc gia. Vấn đề quản trị tài sản trí tuệ đã được quan tâm từ rất lâu tại các trường đại học lớn trên thế giới. Tuy nhiên, năng lực quản trị tài sản trí tuệ của rất nhiều trường đại học tại Việt Nam vẫn còn tương đối hạn chế. Điều này làm ảnh hưởng lớn đến việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, đồng thời gây bất lợi đối với hoạt động tái đầu tư cho nghiên cứu khoa học tại các trường đại học. Bài viết nghiên cứu các nhân tố quyết định ảnh hưởng đến sự thành công trong thương mại hóa tài sản trí tuệ nhằm tìm ra các giải pháp cải thiện hiệu quả hoạt động này cho các trường đại học.

Nguồn trích: Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn - 2021 - no.47 - tr.117-128 - ISSN.2526-2666

4.Thành lập doanh nghiệp spin-off: Góc nhìn từ trường đại học = Setting up a spin-off business: View from the university / Ngô Hữu Thống

Tóm tắt: Để chuyển giao các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, mô hình doanh nghiệp khởi nghiệp từ các viện nghiên cứu, trường đại học (spin-off) đang ngày càng được quan tâm. Một số trường đại học trong nước đã phát triển mô hình doanh nghiệp spin-off, song còn khá “dè dặt” và chưa đạt được hiệu quả như mong đợi. Dựa trên các phân tích thực tế và kinh nghiệm từ các quốc gia khác, tác giả đưa ra nhận định về các rào cản, rủi ro và những vấn đề cần quan tâm trong việc thành lập loại hình doanh nghiệp này ở Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học & công nghệ Việt Nam - 2022 - no.6A - tr.14 - 18 - ISSN.1859-4794

5.Chuẩn hóa chương trình bồi dưỡng cơ bản về quản trị tài sản trí tuệ ở Việt Nam Nguyễn Hữu Cẩn;

Tóm tắt: Bồi dưỡng cơ bản về quản trị tài sản trí tuệ (TSTT) thường có mục tiêu trang bị những kiến thức, kỹ năng cốt lõi về quản trị TSTT cho đội ngũ nhân sự làm công tác này ở các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp... Việc tổ chức các chương trình bồi dưỡng đó một cách bài bản không chỉ góp phần làm gia tăng giá trị lợi ích của TSTT đối với tổ chức, mà còn là một yếu tố quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thương mại hóa công nghệ, phát triển kinh tế... Trên cơ sở xem xét thực trạng bồi dưỡng cơ bản về quản trị TSTT ở Việt Nam so với thực tiễn phổ biến của quốc tế, bài viết đưa ra một số khuyến nghị nhằm chuẩn hóa chương trình bồi dưỡng này trong thời gian tới.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam - 2021 - no.11A - tr.22-24 - ISSN.1859-4794

6.Nghiên cứu doanh nghiệp học thuật Spin-offs từ các trường đại học trên thế giới và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học Việt Nam = Research on Spin-offs in Universities in the World and Problems of Tertiary Education in Vietnam Đinh Văn Toàn;

Tóm tắt: Bài báo tập trung nghiên cứu về các công ty Spin-offs và các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp này từ các cơ sở giáo dục đại học ở một số quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu học thuật đã công bố và kết quả nghiên cứu thực trạng tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam, bài viết đưa ra các vấn đề cần quan tâm về chính sách và cải cách thể chế đối với giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh yêu cầu cải cách thể chế và môi trường cho phát triển doanh nghiệp từ các trường đại học thì tự chủ toàn diện cho các trường để đổi mới tổ chức, khuyến khích khởi nghiệp và thúc đẩy hoạt động thương mại hóa là một vấn đề cấp bách được đặt ra.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Thương mại - Đại học Thương mại - 2021 - no.149-150 - tr.167-176 - ISSN.1859-3666
7.Doanh nghiệp spin-off: Giải pháp cho thương mại hóa tài sản trí tuệ trong các trường đại học = University spin-off: The solution to intellectual property commercialization in universities Bành Quốc Tuấn; Nguyễn Thị Thái Hà;

Tóm tắt: Bài viết tìm hiểu mô hình doanh nghiệp spin-off với tư cách là một giải pháp mới để cải thiện hoạt động thương mại hóa tài sản trí tuệ trong các trường đại học ở nước ta hiện nay. Từ những thách thức do mô hình doanh nghiệp spin-off mang đến, bài viết đưa ra những đề xuất giúp mô hình doanh nghiệp spin-off trở thành một giải pháp hữu ích cho việc cải thiện hoạt động thương mại hóa tài sản trí tuệ tại các trường đại học.

Nguồn trích: Tạp chí Công thương - 2021 - no.2 - tr.91-97 - ISSN.0866-7756

8.Nhu cầu đào tạo sở hữu trí tuệ cho sinh viên giải pháp kết nối chuyển giao công nghệ từ đại học đến doanh nghiệp = Need to training intellectual property for students, solutions to connect technology transfer from university to enterprises Lê Thị Thanh Tâm; Hoàng Đình Thái;

Tóm tắt: Sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực vô cùng năng động đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống văn hóa và kinh tế xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa, các văn bản pháp luật có giá trị liên quốc gia, hay theo khu vực địa lý hay toàn cầu [13]. Lợi ích từ quyền sở hữu trí tuệ là thúc đẩy sự sáng tạo và nỗ lực của con người. Vì vậy, việc đào tạo sở hữu trí tuệ cho sinh viên các trường nhằm đáp ứng nhu cầu hiện nay là rất lớn và cần thiết. Trong bài viết này, chúng tôi trình bày đào tạo sở hữu trí tuệ cho sinh viên ở một số nước trên thế giới và Việt Nam. Qua đó, chỉ ra những rào cản trong quản lý sở hữu trí tuệ tại các trường đại học và đề xuất mô hình cũng như giải pháp kết nối chuyển giao công nghệ từ trường đại học đến doanh nghiệp.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (ĐH Văn Lang) - 2021 - no.25 - tr.122-130 - ISSN.2525-2429

9.Nâng cao hiệu quả đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo trong trường đại học = Improve the effectiveness of training associated with scientific research, technology transfer and innovation in universities Phạm Ngọc Minh; Bùi Văn Quyền;

Tóm tắt: Theo chuẩn mực chung của thế giới, một trường đại học có uy tín phải tạo lập được một nền tảng nghiên cứu và học thuật thực thụ để có thể đóng góp cho xã hội thông qua các công trình nghiên cứu khoa học cụ thể, các hoạt động chuyển giao công nghệ và cao hơn là hoạt động dẫn dắt công cuộc đổi mới sáng tạo quốc gia. Ở Việt Nam với nhiều lý do khác nhau, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong các trường đại học chưa thực sự song hành với đào tạo.Đứng trước yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế, các trường đại học đang có các giải pháp phù hợp để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ gắn liền với đào tạo ngày càng phát triển. Bài viết này xin khái quát những vấn đề cơ bản về tầm quan trọng của sự gắn kết, những bất cập và trao đổi một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, thúc đẩy hoạt động đối mới sáng tạo trong trường đại học - là vấn đề vừa cấp bách vừa mang tính chiến lược trong tiến trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở Việt Nam

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Cửu Long) - 2021 - no.24-25 - tr.129-139 - ISSN.2354-1423

10.Ứng dụng và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế, xã hội địa phương: Trường hợp nghiên cứu tại Trường Đại học Hồng Đức Ngô Chí Thành;

Tóm tắt: Ứng dụng và chuyển giao công nghệ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội nói chung và ở các địa phương nói riêng. Đặc biệt là ứng dụng và chuyển giao có hiệu quả các kết quả nghiên cứu từ các đề tài, dự án do các trường đại học chủ trì, trong đó có các trường đại học trực thuộc địa phương quản lý. Trên cơ sở phân tích tình hình ứng dụng và chuyển giao công nghệ phát triển kinh tế, xã hội từ các kết quả nghiên cứu do trường Đại học Hồng Đức chủ trì, bài báo đề xuất các giải pháp thúc đẩy ứng dụng và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương - 2021 - no.581 - tr.51-53 - ISSN.0868-3808

11.Hợp tác giữa đại học và doanh nghiệp: Một số mô hình trên thế giới và hàm ý cho Việt Nam Nguyễn Xuân Viễn;

Tóm tắt: Hợp tác giữa đại học và doanh nghiệp là xu hướng phổ biến trên thế giới và được đánh giá là giải pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Dựa trên kinh nghiệm một số mô hình hợp tác giữa đại học và doanh nghiệp trên thế giới và thực tế của một số trường đại học ở Việt Nam, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa và nâng cao hiệu quả quan hệ hợp tác giữa trường đại học và các doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc và tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học ngày càng được đề cao ở Việt Nam hiện nay

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Dự báo - 2021 - no.5 - tr.58-61 - ISSN.0866-712

12.Cần thay đổi để sản phẩm khoa học - công nghệ đến gần hơn với nhu cầu của doanh nghiệp = Changes in processes to make scientific and technological products better meet demands from businesses Trần Văn Bình;

Tóm tắt: Những năm qua, mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế chính sách nhằm gắn kết cộng đồng khoa học với các doanh nghiệp (DN), công tác nghiên cứu khoa học ở các trường đại học và các viện nghiên cứu tại Việt Nam tuy đã có những kết quả nhất định, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của xã hội. Các kết quả nghiên cứu khoa học mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm, chưa đủ điều kiện để áp dụng ở quy mô công nghiệp. Do vậy, số công trình được đưa vào áp dụng thực tiễn còn hạn chế. Bài viết đi sâu phân tích 3 hướng: Vận dụng quy trình đẩy và kéo trong việc tìm kiếm và xét duyệt các đề tài nghiên cứu; Cần phải “ươm tạo” các sản phẩm khoa học - công nghệ đến quy mô công nghiệp trước khi chuyển giao; Giải pháp tạo nguồn tài chính cho hoạt động của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia.

Nguồn trích: Tạp chí Công thương - 2021 - no.25 - tr.186-191 - ISSN.0866-7756

13. Phát triển doanh nghiệp trong cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam: thực trạng và giải pháp/Lê Thị Thảo

Tóm tắt: Bài viết đánh giá một số kinh nghiệm và thực trạng phát triển doanh nghiệp tại một số cơ sở giáo dục đại học (CSGDĐH) trên thế giới và tại Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển doanh nghiệp hiệu quả trong CSGDĐH phù hợp với xu thế và tình hình phát triển của khu vực và thế giới.

Nguồn trích: Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 3, tháng 2 năm 2022

14. Chính sách đẩy mạnh liên kết đại học - công nghiệp trong xu hướng tự chủ đại học - Trường hợp điển hình của Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh/Nguyễn Thị Phổ; Mai Ngọc Khương.

Tóm tắt: Liên kết Đại học - Công nghiệp là một trong những yếu tố then chốt, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của các trường đại học cũng như các doanh nghiệp. Để có thể đẩy mạnh mối liên kết này hơn nữa, các trường đại học cần có những chính sách phù hợp nhằm tháo gỡ các rào cản hiện hữu và góp phần gắn kết quan hệ giữa hai bên thông qua việc triển khai các hoạt động hợp tác. Với vai trò là một trong những trường đại học kỹ thuật hàng đầu của Việt Nam, Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG TP. HCM) đã triển khai nhiều chính sách thiết thực và hiệu quả nhằm đẩy mạnh quan hệ hợp tác giữa nhà trường và các doanh nghiệp. Bài nghiên cứu sẽ phân tích cụ thể về sự thành công của chính sách này thông qua kết quả thực tế đạt được và sự đánh giá từ phía các doanh nghiệp đối tác. Bên cạnh đó, các đề xuất, giải pháp thiết thực cũng sẽ được nêu ra nhằm góp phần thúc đẩy hơn nữa mối liên kết hợp tác giữa các trường đại học và khối công nghiệp.

Nguồn trích: Tạp chí Công thương – Online – 2021 - ISSN.0866-7756

15.Nghiên cứu mô hình quản trị tri thức trong các trường đại học = Research on knowledge management model in universities Phạm Ngọc Thạch; Tạ Văn Lợi; Nguyễn Quang Vĩnh; Đào Thị Thanh Bình; Hà Diệu Linh; Hoàng Xuân Trường;

Tóm tắt: Bài viết làm rõ những thành tố và thứ hạng của các thành tố liên quan đến mô hình Quản trị tri thức (QTTT) trong các trường đại học. Phương pháp tổng quan tài liệu có hệ thống đã được sử dụng với 160 công bố liên quan được đánh giá, trong đó có 112 công bố phù hợp cho nghiên cứu, và cuối cùng có 30 công bố được sử dụng cho nghiên cứu. Bằng cách xây dựng ma trận tương quan, nghiên cứu đã đề xuất được 10 thành tố sử dụng cho mô hình QTTT trong các trường đại học, trong đó phân loại các thành tố thành 3 nhóm với thứ tự xuất hiện từ cao đến thấp. Nhóm thứ nhất gồm có 5 thành tố là chia sẻ tri thức, thu nhận tri thức, đánh giá tri thức, sử dụng tri thức và lưu trữ tri thức. Nhóm thứ hai gồm lãnh đạo QTTT và sáng tạo tri thức. Nhóm thứ ba bao gồm phương pháp QTTT, dữ liệu lớn và tạo động lực nghiên cứu khoa học.

Nguồn trích:Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội - 2021 - no.04 - tr.49 - 55 - ISSN.0866 - 756X

 Tổng hợp: Lê Xuân Nga

1. The 11 sins of seafood: Assessing a decade of food fraud reports in the global supply chain.

Lawrence, C. Elliott, W. Huisman, et al. Compr Rev Food Sci Food Saf, 21(4): 3746-69, 2022.

More information http://doi.org/10.1111/1541-4337.12998.

Abstract: Due to complex, valuable, and often extremely opaque supply chains, seafood is a commodity that has experienced a high prevalence of food fraud throughout the entirety of its logistics network. Fraud detection and prevention require an in-depth understanding of food supply chains and their vulnerabilities and risks so that food business operators, regulators, and other stakeholders can implement practical countermeasures. An analysis of historical criminality within a sector, product, or country is an important component and has not yet been conducted for the seafood sector. This study examines reported seafood fraud incidents from the European Union's Rapid Alert System for Food and Feed, Decernis's Food Fraud Database, HorizonScan, and LexisNexis databases between January 01, 2010 and December 31, 2020. Illegal or unauthorized veterinary residues were found to be the most significant issue of concern, with most reports originating from farmed seafood in Vietnam, China, and India. For internationally traded goods, border inspections revealed a significant frequency of reports with fraudulent or insufficient documentation, indicating that deceptive practices are picked up at import or export but are occurring further down the supply chain. Practices such as species adulteration (excluding veterinary residues), species substitution, fishery substitution, catch method fraud, and illegal, unreported, and unregulated fishing were less prevalent in the databases than evidenced in the scientific literature. The analysis demonstrates significant differences in outcomes depending on source and underlines a requirement for a standardized and rigorous dataset through which food fraud can be scrutinized to ensure enforcement, as well as industry and research resources are directed accurately. Practical Application: Levels of historic food fraud in a product, sector, supply chain node or geographic location provide an indication of historic criminality, the methods used and the location of reported frauds. This study provides an overview of historic levels of seafood fraud that can be used to inform seafood fraud prevention and mitigation activities by the food industry, regulators and other stakeholders.

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

1.Tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu: nhận diện xu hướng, thách thức và giải pháp cho Việt Nam / Nguyễn Bích Lâm;

Tóm tắt: Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, thúc đẩy hội nhập và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia với trọng tâm là mở cửa kinh tế, tạo điều kiện kết hợp hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước, mở rộng không gian phát triển. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là đòi hỏi khách quan, đồng thời cũng là nhu cầu nội tại trong tiến trình phát triển kinh tế của các quốc gia. Trong quá trình vận hành của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, chuỗi cung ứng toàn cầu có vai trò quan trọng, là phương thức không thể thiếu, được ví như tuyến "huyết mạch" của kinh tế thế giới. Khi dịch Covid-19 bùng phát, chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy, gây xáo trộn kinh tế, xã hội của các quốc gia. Nguyên nhân dẫn đến đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu bao gồm các yếu tố đan xen phức tạp như: hiện tượng thời tiết cực đoan; thiên tai; đại dịch; thiếu hụt nguồn cung và nhân lực; nút thắt logistics và hiệu quả hoạt động cảng thấp; chiến tranh thương mại; xung đột địa chính trị…Kinh tế nước ta có độ mở lớn, phụ thuộc nhiều vào nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu từ bên ngoài. Vì vậy, chuỗi cung ứng toàn cầu có vai trò quan trọng đối với kinh tế Việt Nam. Những gián đoạn và thay đổi chuỗi cung toàn cầu đều tác động, gây hệ luỵ không nhỏ đến quá trình phát triển đất nước.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Dự báo _ Online - 2022 -  ISSN.1859-4972

2.Sự đứt gãy của chuỗi cung ứng toàn cầu trong bối cảnh đại dịch COVID-19 và phản ứng của các công ty trong chuỗi cung ứng / Phạm Thu Phương;

Tóm tắt: Tác động của đại dịch COVID-19 đã gây ra một trong những sự gián đoạn lớn trong thập kỷ qua, đó là phá vỡ nhiều chuỗi cung ứng toàn cầu. Đại dịch COVID-19 đã làm thay đổi thế giới, đòi hỏi các chính phủ, doanh nghiệp cũng như mỗi cá nhân phải thích ứng với bối cảnh mới và đưa ra những sự lựa chọn mới để thích nghi và tồn tại. Trên cơ sở đánh giá sự đứt gãy của chuỗi cung ứng toàn cầu trong bối cảnh đại dịch COVID-19, bài viết ghi nhận phản ứng của các công ty đa quốc gia và các nhà cung ứng trong việc đưa ra các điều chỉnh nhanh nhằm khắc phục sự gián đoạn của chuỗi cung ứng và nâng cao khả năng phục hồi sản xuất quốc tế của mình.

Nguồn trích:  VNU Journal of Economics and Business, Vol. 2, No. 1 (2022) 100-108.

3.Đa dạng hóa chuỗi cung ứng toàn cầu trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và một số hàm ý cho Việt Nam = Supply chain diversification in the context of the Covid-19 pandemic and policy implications for Vietnam Nguyễn Hồng Thu;

Tóm tắt: Các chuỗi cung ứng toàn cầu đã thúc đấy quá trình chuyên môn hóa và tạo việc làm, qua đó thúc đẩy tăng trưởng. Sự xuất hiện của đại dịch Covid-19 đã làm gián đoạn các chuỗi cung ứng toàn cầu và đặt ra những thách thức chưa từng có. Song đại dịch cũng tạo ra động lực mới để phát triển một mạng lưới sản xuất linh hoạt và năng động hơn, thúc đẩy xu hướng tổ chức lại chuỗi cung ứng toàn cầu trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ đang gia tăng. Bài viết tập trung xem xét những nhân tố thúc đẩy việc đa dạng hoá chuỗi cung ứng, phân tích các xu hướng đa dạng hoá chuỗi cung ứng toàn cầu dưới tác động của đại dịch Covỉd-19, qua đó bài viết đưa ra một số hàm ý chính sách cho Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Những vấn đề kinh tế và Chính trị thế giới - 2022 - no.2 - tr.3-11 - ISSN.0868-2984 
4.EVFTA tạo cơ hội kinh doanh: tiềm năng cho cộng đồng doanh nghiệp Việt = EVFTA creates business opportunities: potential for Vietnamese business community Thanh Tân; 

Tóm tắt: Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - ELI (EVFTA) không chỉ mở ra cơ hội giúp Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, mà còn tạo cơ hội kinh doanh tiềm năng cho doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh kinh tế, giao thương toàn cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng do đại dịch COVID-19 gâỵ ra.

Nguồn trích: Tạp chí Tài chính Doanh nghiệp - 2022 - no.1+2 - tr.53-55 - ISSN.1859-3887

5.Khủng hoảng chuỗi cung ứng toàn cầu trước tác động của căng thẳng Nga-Ukraine Tiến Long; 

Tóm tắt: Xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine đang làm gián đoạn nghiêm trọng chuỗi cung ứng toàn cầu, cắt đứt nhiều tuyến đường vận chuyển quan trọng, buộc các công ty vận tải phải tạm ngừng cung cấp dịch vụ và giá cước hàng không đang tăng vọt

Nguồn trích: Tạp chí Con số sự kiện - 2022 - no.04 - tr.52-53 - ISSN.2734-9139

6.Liên kết chuỗi cung ứng: bài học từ dịch bệnh Covid-19 Võ Minh Duy;

Tóm tắt: Đại dịch Covid-19 đã bộc lộ những khiếm khuyết của liên kết chuỗi cung ứng toàn cầu, đặt ra những thách thức chưa từng có khi đồng thời gây gián đoạn đối với cả cung và cầu hàng hóa. Một số mặt hàng thì không có nguyên vật liệu để tiếp tục sản xuất, trong khi đó, một số mặt hàng có nguyên liệu để sản xuất thì lại không có đơn đặt hàng.... Bài nghiên cứu này, trình bày thực trạng những sự đứt gãy chuỗi cung ứng diễn ra tại Việt Nam, từ đó, đề ra các giải pháp, phương hướng của cả doanh nghiệp và nhà nước cần thực hiện song song để hàn gắn lại các mối đứt gãy đó, tạo tiền đồ cho sự phục hồi, vượt qua khó khăn và cùng nhau phát triển.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương - 2021 - no.580 - tr.85-87 - ISSN.0868-3808

7. Để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu trong bối cảnh mới / Nguyễn Văn Phúc; Nguyễn Thu Hà;

Tóm tắt: Việt Nam đang ngày càng tham gia hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu. Để quá trình hội nhập có tính bền vững cao hơn, việc tạo ra và củng cố vị thế trong mạng lưới các chuỗi cung ứng toàn cầu là hết sức quan trọng, đặc biệt khi hệ thống này bị đứt gãy do tác động của đại dịch COVID-19. Thời gian qua, dù Việt Nam đã có nhiều giải pháp khắc phục thực trạng trên, tuy vậy trong bối cảnh mới, cần tiếp tục có những nỗ lực, giải pháp tham gia sâu hơn, hiệu quả hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Để làm được điều này, vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng.

Nguồn trích: Tạp chí Tài chính_Online – 2022 – no.774 - tr.55-58 – ISSN.2615-8973

8.Vị trí của Việt Nam trong chuỗi cung ứng của thế giới / Trần Thanh Tùng;

Tóm tắt: Việt Nam có những yếu tố thuận lợi về vị trí địa lý, lực lượng lao động trẻ và dồi dào, môi trường kinh doanh không ngừng được cải thiện. Đặc biệt, trong những năm gần đây, Việt Nam tham gia sâu rộng vào hợp tác kinh tế quốc tế thông qua việc ký kết và thực thi hàng loạt các hiệp định FTA trong đó có nhiều nước lớn… Nhờ vậy, Việt Nam tiếp tục trở thành nước có vị trí quan trọng trong chuỗi cung ứng của thế giới.

Nguồn trịch: Tạp chí Con số sự kiện_Online – 2022 -  ISSN. 2734 -9144

9.Tác động của đại dịch COVID-19 đến chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho Việt Nam / Bùi Thị Nhân; Nguyễn Thị Toàn;

Tóm tắt: Đại dịch COVID-19 đã trở thành một sự kiện “thiên nga đen”. Sự hiện diện của COVID đã làm rung chuyển mọi thứ trên toàn cầu trong tất cả các ngành, đặc biệt là lĩnh vực vận tải hàng hóa toàn cầu, dẫn đến những tác động đáng kể đến nền kinh tế thế giới. Đại dịch đã bộc lộ những lỗ hổng của nhiều công ty, đặc biệt là những công ty phụ thuộc vào chuỗi cung ứng toàn cầu, quá phụ thuộc vào các trung tâm sản xuất và các thị trường lớn, nhất là Trung Quốc. Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu đang thể hiện mạnh mẽ, đưa đến cho Việt Nam nhiều cơ hội để vươn lên trong chuỗi cung ứng toàn cầu mới.

Nguồn trích: Tạp chí Tài chính_Online – 2022 - ISSN.2615-8973

10.Nhận định về ảnh hưởng của đại dịch Covid - 19 tới chuỗi cung ứng toàn cầu, một số biện pháp phòng ngừa rủi ro / Đinh Thị Thu Hà

Tóm tắt: Đại dịch Covid-19 đã và đang tác động rất lớn tới nền kinh tế cũng như ảnh hưởng tới các chuỗi cung ứng trên toàn thế giới. Sự gián đoạn mà đại dịch gây ra cho các chuỗi cung ứng để lại hậu quả nặng nề và vấn đề đặt ra là cần có các biện pháp để phòng tránh và đối phó với những sự kiện tương tự trong tương lai. Bài báo nêu lên thực trạng về đại dịch Covid-19, sự đứt gãy chuỗi cung ứng trên phạm vi toàn cầu; từ đó phân tích và chỉ ra các rủi ro tiềm ẩn trong hệ thống cung ứng và đưa ra những giải pháp tiêu biểu, nhằm khắc phục các nhược điểm và cải thiện hoạt động của chuỗi cung ứng.

Nguồn trích: Tạp chí Công thương_Online – 2022 - ISSN 0866 - 7756

11.Chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ gián đoạn kéo dài đến hết năm 2022? / Nguyễn Văn Khanh

Tóm tắt: Cảng Los Angeles (POLA) và Long Beach (POLB) được xem là cửa ngõ nhập khẩu hàng hoá từ châu Á vào Hoa Kỳ và xử lý đến 40% tổng lượng hàng hoá nhập khẩu vào Hoa Kỳ qua đường biển. Làn sóng nhập khẩu hàng từ châu Á về Mỹ đang gây tắc nghẽn tại các cảng ở Bờ Tây, khiến tình trạng thiếu hụt container trên thế giới thêm nghiêm trọng và cước vận tải biển tăng. Tình hình càng thêm phức tạp trước nguy cơ lây lan COVID-19, khiến cho việc ùn tắc chuỗi cung ứng có thể kéo dài đến hết năm 2022.

Nguồn trích: Tạp chí Vietnam Logistics Review_Online – 2022 – ISSN 2354-0796

12.Khôi phục chuỗi cung ứng sau đại dịch / Nguyễn Duy Minh; Nguyễn Tương

Tóm tắt: Đa dạng hóa chuỗi cung ứng đảm bảo ổn định hoạt động sản xuất, tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu đang đặt ra thách thức cho nền kinh tế nước ta, nhất là trong giai đoạn sau đại dịch Covid-19.

Nguồn trích: Tạp chí Vietnam Logistics Review_Online – 2022 - – ISSN 2354-0796

Tổng hợp: Lê Xuân Nga

 

TẠP CHÍ IN CÓ TẠI THƯ VIỆN (Bản in được lưu trữ tại Tầng 4)

1. Ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đến độ biến thiên trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Nguyễn Phan Thu hằng; Lê Đình Nghi

Tóm tắt: Báo cáo ảnh hưởng của Covid-19 đến độ biến thiên trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Sử dụng dữ liệu ngày của chỉ số VN-Index từ ngày 01/01/2016 đến 31/12/2021 và mô hình GARCH, kết quả nghiên cứu chỉ ra đại dịch Covid-19 làm gia tăng độ biến thiên trên thị trường chứng khoán Việt Nam, ngoại trừ làn sóng dịch thứ ba. Ngoài ra, bài báo còn chỉ ra độ biến thiên trên thị trường lớn nhất ở làn sóng dịch thứ nhất. Như vậy, các nhà đầu tư cần có các chiến lược đa dạng hóa danh mục đầu tư phù hợp nhằm quản trị rủi ro khi đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh đại dịch. Các cơ quan quản lý thị trường cũng cần có những biện pháp phù hợp nhằm quản trị rủi ro do sự biến động giá cổ phiếu trên thị trường, đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường khi dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á (JABES) - 2022 - no.6 - tr.106- 124 – ISSN.2615-9104

Đánh giá phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam từ góc độ bền vững/Phạm Thị Thu Hà;// Tạp chi Công thương - 2021 - no.15 - tr.115-124

Đối với một quốc gia, năng lượng luôn có vai trò rất quan trọng. Phát triển năng lượng bền vững là một trong những tiêu chí đo lường sự thịnh vượng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, để duy trì được sự phát triển bền vững này lại là một bài toán khó. Bài viết sẽ đi sâu phân tích tình hình phát triển bền vững trong ngành Năng lượng tái tạo ở Việt Nam, đồng thời đề xuất nhóm giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn còn tồn tại.

Bottom-up approach for flood risk management in developing countries: a case study in the Gianh River watershed of Vietnam.

Huu Duy Nguyen, Thi Ha thanh Nguyen, Quoc Huy Nguyen, et al., 2022. Free full text https://assets.researchsquare.com/files/rs-1520947/v1/cda4f234-7f8c-48af-9fa6-635d80caeb9b.pdf?c=1650052928.

Abstract: Flood effects are very serious, especially in developing countries where they are at high risk due to urbanization and socio-economic development. Reliable information is crucial to support decisionmakers or planners to develop appropriate strategies to reduce flood risk. This article aims to develop a theoretical framework for assessing flood risk and adaptive capacity based on a bottom-up approach, in the Gianh River watershed of Vietnam, considered a very important task for flood risk management. Flood risk was computed by combining hazard, exposure, and vulnerability using hydrodynamic modeling and the Analytic Hierarchy Process method. The adaptive capacity of the population was assessed via interviews with 298 inhabitants. The results show that flood risk is high in areas with high population and construction density. Both the ability to access resources and communities' perceptions are important factors in improving the capacity to adapt. This study can provide an important theoretical framework complementing the existing literature and supporting studies related to flood risk management in the context of climate change and urbanization in other regions. Besides, the study fills in a gap in the knowledge of negative flood effects, providing important inputs for decision-makers to develop appropriate strategies for reducing damage in Vietnam and other countries in the world. From a methodological start point, this study underlines the importance of using hydraulic models and socioeconomic surveys in flood risk management.

  1. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển thị trường dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải rắn sinh hoạt và đề xuất một số bài học kinh nghiệm phù hợp với điều kiện Việt Nam/ Nguyễn Duy Thái

Tóm tắt: Bài báo tập trung nghiên cứu một số kinh nghiệm quốc tế (tại Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đan Mạch) về phát triển thị trường dịch vụ rác thải sinh hoạt. Nội dung nghiên cứu được tiếp cận dưới góc độ chuyên ngành kinh doanh thương mại gồm: 1) Quản lý nhà nước phát triển thị trường dịch vụ rác thải sinh hoạt; 2) Thu phí xử lý rác thải sinh hoạt theo khối lượng phát sinh; 3) Phân loại rác thải sinh hoạt. Bài báo đề xuất một số bài học kinh nghiệm phát triển thị trường dịch vụ rác thải sinh hoạt phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Công thương/ 2021, số 17, tr108-116

Chemical composition, radioactive and stable isotopes in several selected thermal waters in North Vietnam

Nguyen Dinh Chau, Katarzyna Wątor, Piotr Rusiniak, et al. Ecological Indicators, 138: 108856, 2022.

Free full text: https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1470160X22003272

Abstract: This work presents the chemical composition and concentration of radioactive and stable isotopes in water samples collected from nine well-known therapeutic centers located in north Vietnam. Excluding the Thanh Thuy – Phu Tho waters, which are hosted in Pleistocene sandstone with marble and gravel, the rest of studied waters are hosted in Paleozoic limestone formations. The thermal waters are extracted from 10 to 400 m below the surface, but the Keng Ga Ninh Binh intake is of an artesian nature. The temperature measured in the outlet waters ranges from 39 °C to 61 °C. The δ18O and δ2H (δD) vary from −9.13 to −5.09 ‰ and −63.9 to −34.1 ‰ respectively. All the thermal waters examined originate from infiltration water. This is also confirmed by the values of selected calculated hydrochemical indices. The hydrochemical types of the waters are HCO3-Ca-Mg, HCO3-Na, Cl-Na, SO4-HCO3-Ca-Mg, SO4-Ca-Mg and SO4-Ca. The mineralization of the concerned waters varies from 244 mgL−1 to more than 11,500 mgL−1. The concentrations of uranium and radium in the waters are in the broad interval from about 4 mBqL−1 to 680 mBqL−1 for 238U and from below 5 mBqL−1 (limit of detection - LOD) to above 3400 mBqL−1 for 226Ra. There is no 228Ra in most of the waters (below 10 mBqL−1- LOD), excluding two waters in the Thanh Thuy-Phu Tho district, where 228Ra is present with 18 and 27 mBqL−1. In all the waters studied, there is a very low concentration of polonium (210Po) which varies from 0.5 mBqL−1 to 8.2 mBqL−1. High mineralization and high radium concentration should be associated with a long residence time in the given geological formation. The linear relationship between the depth of the host water formations and the water temperature suggests that the study waters are mostly heated from the geogradient of heat energy. But the water from the My Lam district is probably heated by intrusive magmatic fluid. From a radiological point of view, the waters used for therapeutic and relaxation purposes are safe, however, there would be some problems if they were to be used for drinking purposes.

1.Lịch sử lực lượng vũ trang tỉnh An Giang (1975-2010)/ Ngô Quang Láng ... [và những người khác. - Hà Nội: Chính trị Quốc gia - Sự thật , 2014.

Tóm tắt: Quyển sách ghi lại quá trình hình thành, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang tỉnh An Giang giai đoạn 1975-2010, đúc kết những kinh nghiệm và bài học quý báu cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới phía Tây của Tổ quốc.

Số phân loại: 355.009597/L302
Số ĐKCB: MD070434