1.Chức năng dự báo của triết học Mác - Lênin và sự vận dụng của Đảng ta/ PGS. TS. Lương Thanh Hân

Tóm tắt: Dự báo là một chức năng đặc trưng của triết học Mác - Lênin. Đây là chức năng được quy định bởi bản chất nội tại của hệ thống triết học khoa học và cách mạng, thống nhất giữa nhận thức và cải tạo thế giới. Nhận thức và vận dụng sâu sắc vấn đề này, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định “Nắm chắc, dự báo đúng, định hướng chính xác, xử lý đúng đắn, kịp thời các vấn đề trong Đảng, trong xã hội”. Trên cơ sở đó, bài viết luận giải về chức năng dự báo của Triết học Mác - Lênin, vai trò của chức năng đó và sự vận dụng của Đảng ta trong nhận định, dự báo tình hình cụ thể của Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Triết học/ 2022, Số 5 (372), Tr. 3 - 10

1. Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học hướng tới Thập kỷ phục hồi hệ sinh thái/ Nguyễn Xuân Dũng

Tóm tắt: Việt Nam được đánh giá là một nước có đa dạng sinh học (ĐDSH) cao trên thế giới. ĐDSH đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là nguồn vốn tự nhiên quan trọng đối với phát triển bền vững đất nước, đặc biệt là nền tảng để phát triển các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và du lịch. Vì vậy, bảo tồn thiên nhiên (BTTN) và ĐDSH đã được xác định là vấn đề môi trường toàn cầu, được các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm, góp phần thúc đẩy hội nhập và thực hiện các cam kết quốc tế. Tuy nhiên, với áp lực của phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, mặt nước chưa phù hợp, khai thác quá mức và buôn bán trái phép động, thực vật hoang dã; ô nhiễm môi trường (ÔNMT); biến đổi khí hậu (BĐKH); sinh vật ngoại lai xâm hại (SVNLXH) có xu hướng gia tăng, ảnh hưởng ngày càng lớn đến ĐDSH. Do đó, việc nhận diện các tác động, ảnh hưởng gây suy giảm ĐDSH là cần thiết, làm cơ sở cho các định hướng ưu tiên về BTTN và ĐDSH trong thập kỷ phục hồi hệ sinh thái (HST).

Nguồn trích: Tạp chí Môi trường/ 2022, Số 8, Tr.19-23

1. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số giai đoạn 2011-2020, những đề xuất cho giai đoạn 2021-2030 = Preserve and promote the cultural values of ethnic minorities in the period 2011-2020, recommendations for the period 2021-2030/ Trịnh Thị Thủy

Tóm tắt: Với quan điểm nhất quán, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: “Văn hóa các dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất, đa dạng”. Trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước luôn có những chủ trương, chính sách phù hợp, nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số. Sự nhất quán trong nhận thức và triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đã góp phần quan trọng trong phát triển đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số. Bên cạnh những kết quả đạt được, trong giai đoạn 2011 – 2020, công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số cũng đang đặt ra một số vấn đề cần được quan tâm và giải quyết kịp thời trong giai đoạn 2021-2030.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc/ 2021, Số 1, Tr.13-18

1. Kinh nghiệm trong xây dựng công cụ giám sát và quản trị chất lượng cho doanh nghiệp ngành nước ở Đức = Experiences in developing effective tools for monitoring and quality management of companies in water sector in Germany/ Nguyễn Trung Dũng

Tóm tắt: Công cụ quản lý hữu hiệu như Benchmarking với các chỉ số về an toàn trong cung ứng, chất lượng nước, dịch vụ khách hàng, bền vững và kinh tế đóng vai trò trọng tâm khi thực hiện chiến lược hiện đại hóa quản lý ngành nước ở Đức. Tiếp theo là công cụ quản trị rủi ro/cơ hội và thẻ điểm cân bằng BSC (Balanced ScoreCard). Trong khuôn khổ một dự án của Hiệp hội khí đốt và nước DVGW thì rà soát lại toàn bộ những dự án Benchmarking của 12/16 bang được làm từ năm 1996/97 và hoàn thiện. Với công cụ quản trị hữu hiệu này, trên 6.200 doanh nghiệp trong ngành nước được quản lý thống nhất. Bài báo này trình bày kinh nghiệm của Đức trong xây dựng và áp dụng những công cụ quản trị hiện đại cho các đơn vị trong ngành, để từ đó xây dựng một ngành nước hiện đại, đi đầu ở châu u và trên thế giới. Một vài ý tưởng cũng như kinh nghiệm của nước Đức có thể giúp cho hoàn thiện công tác quản lý ngành cấp thoát nước và thủy nông ở Việt Nam theo hướng hiện đại.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thủy lợi & Môi trường/ 2018, Số 61, Tr.135-143

TẠP CHÍ BẢN TIN (Khu vực trưng bày tạp chí - Tầng 3)

1.Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với phát huy sức mạnh, quyền làm chủ của nhân dân - Giá trị và định hướng vận dụng trong thực tiễn/ TS. Phạm Tất Thắng

Tóm tắt: Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; trong đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Do đó, yêu cầu đặt ra hiện nay là cần tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với phát huy sức mạnh, quyền làm chủ của nhân dân. Bài viết giới thiệu các nội dung: (1) Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh, quyền làm chủ của nhân dân; (2) Thực tiễn xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với phát huy sức mạnh, quyền làm chủ của nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời gian qua; (3) Một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với phát huy sức mạnh, quyền làm chủ của nhân dân trong tình hình mới

Nguồn trích: Tạp chí Cộng sản/ 2022, Số 1000 Tháng 10, Tr. 28 - 35

1.Nâng cao chất lượng dạy và học tác phẩm văn học nước ngoài trong môn Ngữ văn Trung học phổ thông = Improving the quality of teaching and learning foreign literary works in high school literature/ Lương Văn Hà

Tóm tắt: Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu về thực trạng dạy và học tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình Ngữ văn bậc Trung học phổ thông (THPT), đi sâu tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong việc dạy và học văn học nước ngoài đồng thời chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó. Bài viết không chỉ khẳng định vị trí của văn học nước ngoài trong chương trình Ngữ văn bậc THPT mà còn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học tác phẩm văn học nước ngoài sao cho hiệu quả như: thay đổi phương pháp dạy và học văn học nước ngoài theo hướng phát huy năng lực người học, dạy học theo chủ đề, tăng cường các hoạt động ngoại khóa và sân khấu hóa văn học nước ngoài.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Tây Nguyên)/ 2022 - no.53 - tr.106-116

1.'Lessons for Developing Countries From Outlier Country Health Systems'.

  1. Mor. Front Public Health, 10: 870210, 2022. More information http://doi.org/10.3389/fpubh.2022.870210.

 Abstract: Building good health systems is an important objective for policy makers in any country. Developing countries which are just starting out on their journeys need to do this by using their limited resources in the best way possible. The total health expenditure of a country exerts a significant influence on its health outcomes but, given the well-understood failures of price-based market-mechanisms, countries that spend the most money do not necessarily end-up building the best health systems. To help developing country policy makers gain a deeper insight into what factors matter, in this study the contribution of per-capita total, out-of-pocket, and pooled health expenditures, to the cross-country variation in Disability Adjusted Life Years lost per 100,000 population (DALY Rates), a summary measure of health outcomes, is estimated. The country-specific residuals from these analyses are then examined to understand the sources of the rest of the variation. The study finds that these measures are able to explain between 40 and 50% of the variation in the DALY Rates with percentage increases in per-capita out-of-pocket and pooled expenditures being associated with improvements in DALY Rates of about 0.06% and 0.095%, respectively. This suggests that while increases in per-capita total health expenditures do matter, moving them away from out-of-pocket to pooled has the potential to produce material improvements in DALY Rates, and that taken together these financial parameters are able to explain only about half the cross-country variation in DALY Rates. The analysis of the residuals from these regressions finds that while there may be a minimum level of per-capita total health expenditures (> $100) which needs to be crossed for a health system to perform (Bangladesh being a clear and sole exception), it is possible for countries to perform very well even at very low levels of these expenditures. Colombia, Thailand, Honduras, Peru, Nicaragua, Jordan, Sri Lanka, and the Krygyz Republic, are examples of countries which have demonstrated this. It is also apparent from the analysis that while very high rates (> 75%) of pooling are essential to build truly high performing health systems (with DALYRates < 20, 000), a high level of pooling on its own is insufficient to deliver strong health outcomes, and also that even at lower levels of pooling it is possible for countries to out-perform their peers. This is apparent from the examples of Ecuador, Mexico, Honduras, Malaysia, Vietnam, Kyrgyz Republic, and Sri Lanka, which are all doing very well despite having OOP% in the region of 40-60%. The analysis of residuals also suggests that while pooling (in any form) is definitely beneficial, countries with single payer systems are perhaps more effective than those with multiple payers perhaps because, despite their best efforts, they have insufficient market power over customers and providers to adequately manage the pulls and pressures of market forces. It can also be seen that countries and regions such as Honduras, Peru, Nicaragua, Jordan, Sri Lanka, Bangladesh, Kerala, and the Kyrgyz Republic, despite their modest levels of per-capita total health expenditures have delivered attractive DALY Rates on account of their consistent prioritization of public-health interventions such as near 100% vaccine coverage levels and strong control of infectious diseases. Additionally, countries such as Turkey, Colombia, Costa Rica, Thailand, Peru, Nicaragua, and Jordan, have all delivered low DALY Rates despite modest levels of per-capita total health expenditures on account of their emphasis on primary care. While, as can be seen from the discussion, several valuable conclusions can be drawn from this kind of analysis, the evolution of health systems is a complex journey, driven by multiple local factors, and a multi-country cross-sectional study of the type attempted here runs the risk of glossing over them. The study attempts to address these limitations by being parsimonious and simple in its approach toward specifying its quantitative models, and validating its conclusions by looking deeper into country contexts.

1. Ứng dụng góc định hướng vào một số bài toán hình học phẳng = Applications of oriented angles in some geometric problems/ Nguyễn Đạt Đăng, Lưu Công Đông

Tóm tắt: Trong bài báo này chúng tôi sử dụng góc định hướng vào giải một số bài toán Hình học phẳng chọn lọc và sáng tạo một số bài toán hình học. Đây là những bài toán chủ yếu liên quan đến mối quan hệ giữa đường thẳng và đường tròn, đa giác và đường tròn nội ngoại tiếp chúng. Việc sử dụng góc định hướng sẽ tránh tình trạng xét thiếu trường hợp hoặc phải biện luận nhiều trường hợp như việc dùng góc vô hướng thông thường trong Hình học phổ thông.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Sư phạm Hà Nội)/ 2018, Số 3, Tr.3-22


1. Quyền sở hữu đối với sáng chế do người lao động tạo ra theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và kinh nghiệm từ nước ngoài/ Nguyễn Trọng Luân

Tóm tắt: Phần lớn các sáng chế trong doanh nghiệp được tạo ra bởi người lao động. Câu hỏi được đặt ra là trong trường hợp nào sáng chế được tạo ra bởi người lao động sẽ thuộc về người sử dụng lao động và trường hợp nào sẽ thuộc về người lao động Quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019) về vấn đề này vẫn còn nhiều điểm bất cập cần thiết phải được sửa đổi. Trên cơ sở nghiên cứu pháp luật của một số nước phát triển như Pháp, Đức, Anh và Hoa Kỳ, bài viết đưa ra những kinh nghiệm cho pháp luật Việt Nam để hoàn thiện quy định này.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Pháp lý/ 2020, Số 3, Tr.50-57

1.Bán lẻ trực tuyến Việt Nam giai đoạn 2021-2030: Những biến động và khuyến nghị với doanh nghiệp bán lẻ = Vietnam's online retail in the period of 2021-2030: Fluctuations and recommendations for retailers / Nguyễn Trần Hưng;

Tóm tắt: Sự phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam được kỳ vọng sẽ có tác động lớn đến sự phát triển của thương mại điện tử (TMĐT) và cả nền kinh tế số quốc gia, khi đặt ra mục tiêu trở thành thị trường bán lẻ triển vọng nhất trong khu vực thông qua việc xây dựng niềm tin của người tiêu dùng đối với các hoạt động mua bán trực tuyến, củng cố hệ thống cơ sở hạ tầng và các dịch vụ hỗ trợ cho bán lẻ trực tuyến nói riêng và hoạt động TMĐT nói chung, đẩy mạnh ứng dụng bán hàng trực tuyến để hỗ trợ các ngành xuất khẩu chủ lực, đồng thời mở rộng tiêu thụ hàng hóa trong nước và thúc đẩy phát triển TMĐT tại các địa phương trong cả nước. Bài viết của tác giả sẽ trình bày một cách khái quát các số liệu thống kê của các tổ chức nghiên cứu thị trường trên thế giới, để làm cơ sở đưa ra nhận định về biến động của bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam trong giai đoạn 2021-2030. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số gợi ý đối với doanh nghiệp bán lẻ trực tuyến tại Việt Nam nhằm tận dụng tốt nhất xu thế này.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Dự báo - 2022 - no.15 - tr.236-241 - ISSN.0866-7120