Tạp chí in (Kho Tham khảo – Tầng 4)

1. Nghiên cứu đánh giá khả năng thích nghi và độ ổn định năng suất của một số tổ hợp lúa lai hai dòng chọn tạo trong nước/ Nguyễn Tiến Thành, Hoàng Tuyết Minh, Trần Thanh Nhạn

Tóm tắt: Kết quả nghiên cứu tại vùng miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ trong vụ mùa 2009 và vụ xuân 2010 cho thấy: về thời gian sinh trưởng tất cả 7 giống lúa lai đều thuộc nhóm ngắn ngày, thời gian sinh trưởng dao động từ 102 đến 114 ngày trong vụ mùa và 120-129 trong vụ xuân. Về độ ổn định, năng suất trong vụ mùa, giống LC270 cho năng suất ổn định ở tất cả các vùng sinh thái. Giống TH8-3 có năng suất ổn định ở các vùng khó khăn, điều kiện thâm canh thấp. Giống Thanh Ưu 4 cho năng suất ổn định ở môi trường thuận lợi, có điều kiện thâm canh cao. Các giống khác có năng suất không ổn định.
Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn/ 2013, số 15, tr. 13-17


2. Thực trạng sản xuất và tiềm năng phát triển lúa lai ở Bắc Trung bộ / Phạm Hùng Cương; Phạm Văn Chương; Lê Thị Thanh Thuỷ

Tóm tắt: Cơ cấu diện tích lúa lai khi so sánh giữa các tỉnh trong vùng có sự không cân đối, cụ thể Thanh Hóa và Nghệ An có diện tích lúa lai chiếm phần lớn diện tích lúa thì các tỉnh còn lại có diện tích lúa không đáng kể. Một trong những nguyên nguyên nhân chính là do thiếu các tổ hợp lúa lai phù hợp với điều kiện mùa vụ ở từng vùng sinh thái.
Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn/ 2012, số 20, tr. 3-11


3. Kết quả nghiên cứu mật độ gieo và lượng phân bón thích hợp cho lúa lai ở vùng Nam Trung bộ và Tây Nguyên/ Lại Đình Hoè; Đỗ Minh Hiện; Hồ Công Trực

Tóm tắt: Kết quả đã xác định được đối với giống lúa lai 3 dòng BTE – 1 ở vùng Nam Trung bộ với mật độ gieo 40 kg/ha thóc giống kết hợp với mức phân bón 140 N + 80 P2O5 + 100 K2O thích hợp cả cho vụ hè thu và đông xuân, năng suất đạt từ 85,14-89,28 tạ/ha, lợi nhuận thu được từ 32,534 – 36,218 triệu đồng/ha, tỷ suất lợi nhuận từ 154,2 – 166,0%.
Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn/ 2012, số 15, tr. 42-48


4. Ưu thế lai về quang hợp ở lá đòng của giống lúa lai Việt Lai 50 (Oryza sativa L.) trong thời kỳ chín / Tăng Thị Hạnh; Phạm Văn Cường; Phan Thị Hồng Nhung; Nguyễn Thị Trang; Lê Thị Vân

Tóm tắt: Kết quả nghiên cứu cho thấy VL50 có ưu thế lai dương về các chỉ tiêu: cường độ quang hợp, giá trị SPAD (một chỉ tiêu có tương quan thuận với hàm lượng diệp lục) và chỉ số độ dày lá (SLA). Cường đô quang hợp của VL50 có tương quan thuận với chỉ số SPAD và SLA nhưng không có tương quan với độ nhạy không khí và cường độ thoát hơi nước.
Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn/ 2012, số 15, tr. 25-29


5. Ảnh hưởng của mật độ phân bón đối với giống lúa hai dòng mới TH3 - 5 tại vùng đồng bằng sông Hồng / Trần Văn Quang; Trần Mạnh Cường; Phùng Danh Huân; Lương Thế Anh; Nguyễn Thị Trâm

Tóm tắt: Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian sinh trưởng giữa các công thức chênh lệch nhau không nhiều trong cả vụ xuân (3 ngày) và vụ mùa (2 ngày). Tuy nhiên có xu thế ở các công thức bón nhiều phân hơn thì thời gian sinh trưởng nhiều hơn. Tương tự như vậy, ở các chỉ tiêu như chiều cao cây, chiều dài và chiều rộng lá cũng có xu thế lớn hơn ở các công thức bón phân cao hơn.
Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn/ 2012, số 9, tr. 51-56


6. Nghiên cứu phát triển sản xuất giống lúa lai hai dòng TH7-2 tại tỉnh Hải Dương / Nguyễn Văn Mười

Tóm tắt: Kết quả bước đầu cho thấy giống lúa TH7-2 phù hợp với điều kiện canh tác tại Hải Dương. Giống TH7-2 có thời gian sinh trưởng trung bình, có thể gieo cấy được ở vụ Xuân muộn. Mùa sớm trên những chân đất vàn, vàn trũng trong cơ cấu 2 vụ lúa hoặc hai vụ lúa – một vụ Đông ngắn ngày trong năm.
Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và công nghệ Hải Dương/ 2012, số 6, tr. 16-17


7. Nghiên cứu biểu hiện di truyền tính thơm trong chọn giống lúa lai hai dòng năng suất cao / Nguyễn Thị Trâm; Phạm Thị Ngọc Yến; Nguyễn Văn Mười; Trần Văn Quang

Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện trên 3 công thức lai giữa 3 dòng mẹ TGMS (2 dòng thơm, 1 dòng không thơm) với 14 dòng bố (7 dòng thơm, 7 dòng không thơm), các tổ hợp lai cụ thể như sau: 14 tổ hợp lai mẹ thơm/bố thơm; 14 tổ hợp mẹ thơm/bố không thơm và 7 tổ hợp mẹ không thơm/bố thơm. Con lai F1 của các tổ hợp lai từ 3 công thức lai trên được bố trí so sánh năng suất, dồng thời đánh giá đặc điểm di truyền mùi thơm từ bố mẹ sang con lai F1. Đã xác định được 2 tổ hợp lai ở công thức mẹ thơm/bố thơm vừa có năng suất cao vừa thơm ở lá, gạo xay và cơm, đó là T2S/R2 và T23S/R2.
Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn/ 2012, số 4, tr. 22-29


8. Nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống lúa lai nội trên đất phèn ven biển tỉnh Thái Bình / Hoàng Quốc Chính; Nguyễn Trí Hoàn; Phạm Tiến Cường

Tóm tắt: Kết quả nghiên cứu khả năng thích ứng các giống lúa lai hai dòng, ba dòng đã được chọn tạo và sản xuất trong nước trên vùng đất phèn ven biển tỉnh Thái Bình trong 2 vụ xuân (2010-2011) cho thấy các giống lúa lai đều sinh trưởng, phát triển tốt, không bị nhiễm độc phèn, thời gian sinh trưởng ngắn (121-128 ngày, vụ xuân), sức phát triển của mạ tốt, nhiễm sâu bệnh nhẹ và cho năng suất cao từ 65,6 – 80,5 tạ/ha.
Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn/ 2012, số 3, tr. 23-29


9. Chọn tạo dòng cho phấn mới R50 và sử dụng trong tạo giống lúa hai dòng / Vũ Hồng Quảng; Nguyễn Văn Hoan

Tóm tắt: Sử dụng đặc điểm nông sinh học của giống thấp cây Daikoku Dwarf đã chọn tạo được dòng bố R50 có dạng làm ngắn đốt bông ở 3 cấp, rút ngắn đốt giẻ cấp 2 đã tạo ra bông lúa có số giẻ cấp 1,2 cao, nhiều hạt/bông mà vẫn đảm bảo tỉ lệ chắc/bông, cấu trúc nhân tạo ra kiểu hình thấp cây mới, vách thân dày, vững chai chống đổ tốt. Sử dụng dòng R50 trong các tổ hợp lai với các dòng TGMS đã tạo ra nhiều tổ hợp lai mới điển hình là tổ hợp Việt Lai 50.
Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn/ 2011, số 1, tr. 44-49


Tạp chí điện tử
Địa chỉ truy cập: http://lhtv.vista.vn/ (Chọn STD - Tài liệu KH&CN Việt Nam)
Lưu ý : Bạn đọc vui lòng truy cập theo hệ thống mạng nội bộ của Trường Đại học An Giang để đọc và download toàn văn tài liệu.


10. Đánh giá năng suất và chất lượng một số tổ hợp lúa lai hai dòng tại Đắk Lắk / Trần Văn Thủy; Phan Hùng Cường

Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện trên 15 tổ hợp lúa lai hai dòng được chọn tạo trong nước có triển vọng về năng suất và tính chống chịu cao, chất lượng tốt. Phương pháp nghiên cứu dựa trên quy phạm khảo nghiệm giá trị canh tác. Kết quả nghiên cứu cho thấy các tổ hợp lúa lai hai dòng trong thí nghiệm thuộc nhóm giống có thời gian sinh trưởng ngắn và trung ngày và ngắn ngày hơn so với giống Nhị ưu 838, chiều cao cây trong thí nghiệm thuộc loại bán lùn và đến trung bình tùy theo thời vụ gieo sạ.
Nguồn trích: Thông tin Khoa học và Công nghệ Đắk Lắk/ 2012, số 5, tr. 19-25


11. Kết quả đánh giá một số tổ hợp lai hai dòng tại Thái Nguyên / Phạm Văn Ngọc; Vũ Văn Liết; Phạm Ngọc Lương

Tóm tắt: Tiến hành đánh giá khả năng kết hợp các dòng TGMS tại Thái Nguyên, kết quả chọn đươc hai dòng TG10 và Peiai64S có khả năng kết hợp chung cao về năng suất. Hai dòng mẹ TG10 và Peiai64S được sử dụng làm dòng mẹ lai với 22 dòng bố được 40 tổ hợp lai F1.
Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ/ 2011, số 12, tr. 135-142


12. Khảo nghiệm một số giống lúa lai mới tại các vùng sinh thái khác nhau trên địa bàn tỉnh / Huyền Trang

Tóm tắt: Bài viết trình bày kết quả khảo nghiệm tại các địa phương Hợp Châu – Tam Đảo, Hợp Thịnh – Tam Dương, Vĩnh Đông – Thị trấn Yên Lạc. Kết quả nghiên cứu cho thấy: ở vùng đồng bằng lúa cho năng suất cao; vùng Trung Du và vùng miền núi lúa lai chưa phát huy hết tiềm năng, cần có chế độ thâm canh và chọn giống lúa lai hợp lý.   
Nguồn trích: Thông tin Khoa học và Công nghệ Vĩnh Phúc/ 2011, số 5, tr. 17-20


13. Kỹ thuật thâm canh giống lúa lai 3 dòng nhị ưu 986 vụ xuân năm 2012 / Nguyễn Thị Vang

Tóm tắt: Bài viết trình bày kỹ thuật thâm canh giống lúa lai 3 dòng Nhị ưu 986: về lượng giống cho một sào ở Bắc bộ (360m2) từ 0,8 – 1,0 kg; mật độ cấy từ 40 – 45 khóm/m2, cấy 12 dảnh/khóm; bón phân: phân chuồng 200-300 (hoặc 20-25 kg phân hữu cơ vi sinh) + 4-5 kg urê + 20 kg NPK (5:10:3) + 4-5 kg kali; nước tưới sau khi cấy giữ ở mức 2-3 cm, khi lúa đẻ đủ số nhánh rút cạn nước trong vòng 5 -7 ngày, sau đó giữ mực nước 2-3 cm cho đến khi lúa vào chắc và đỏ đuôi mới thôi nước; sâu bệnh xử lý theo nguyên tắc 4 đúng; thu hoạch khi có 85-90% số hạt trên bông chín.
Nguồn trích: Bản tin Khoa học và Công nghệ Hà Nam/ 2011, số 4, tr. 23-24


14. Giống lúa lai BiO404 tại Tân Châu / Hà Thị Hoa

Tóm tắt: Bài viết trình bày những ưu điểm của giống lúa lai BiO404: cây sinh trưởng khỏe, chống đổ tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh khá, năng suất cao, chất lượng gạo ngon, phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu của địa phương.
Nguồn trích: Thông tin Khoa học và Công nghệ Lai Châu/ 2011, số 4, tr. 11

 

 

Tổng hợp: Phan Hữu Nghị