1. Đặc điểm nổi bật bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Khmer tỉnh An Giang / Th.S Phạm Văn Sơn

Tóm tắt: Trong quá trình sinh sống, người Khmer có mối quan hệ giao lưu văn hóa với các dân tộc khác nhưng người Khmer luôn giữ được bản sắc dân tộc đặc trưng của dân tộc mình. Đầu tiên, ở người Khmer An Giang có tính cộng đồng và giản dị trong văn hóa truyền thống (VHTT) thể hiện trong sinh hoạt tín ngưỡng, tính cộng đồng còn thể hiện ở tinh thần đoàn kết dân tộc trong đời sống văn hóa. Bên cạnh đó, tính nhân văn sâu sắc trong VHTT của dân tộc Khmer – An Giang được thể hiện rõ nét qua các lễ hội, các giáo lý nhớ ơn tổ tiên, ông bà cha mẹ và cả những nghi lễ vòng đời của cá nhân từ khi sinh ra đến lúc chết đi bao hàm giá trị đạo đức, thẩm mỹ. Mặt khác, tính dung hòa và giàu yếu tố tâm linh trong VHTT của dân tộc Khmer, điều này dẫn đến việc người Khmer đã tiếp thu văn hóa của dân tộc người Việt, Hoa, Chăm và các dân tộc khác. Ngoài ra, tính tự trị trong VHTT của cộng đồng dân tộc Khmer ở các phum sóc vì tính cộng đồng tạo nên những tập thể khép kín mang tính tự trị xây dựng môi trường tốt để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Có thể nói, bản sắc văn hóa người Khmer cho ta thấy sức mạnh của VHTT tạo nên nét đặc sắc riêng của dân tộc Khmer An Giang.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa – Lịch sử An Giang / 2014, Số 10(115), tr. 8-9, 34


2. Chuyển đổi tôn giáo của dân tộc Khmer, Hoa và Chăm ở Tây Nam Bộ hiện nay / Phú Văn Hẳn

Tóm tắt: Chuyển đổi tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng xã hội khách quan, diễn ra trong quá trình phát triển con người. Hiện nay, hiện tượng tôn giáo mới cũng như sự chuyển đổi tôn giáo đang lan tỏa nhanh, rộng ở nhiều vùng và nhiều tộc người. Tình trạng này đang làm nảy sinh những vấn đề xã hội cần được quan tâm nghiên cứu ở vùng Tây Nam Bộ. Trong bài viết, trên cơ sở nghiên cứu việc chuyển đổi tôn giáo của người Khmer, Hoa, Chăm, tác giả đã phân tích nguyên nhân, hiện trạng, động thái của tình hình trên. Qua đó, tác giả cũng đưa ra quan điểm phát triển vùng trên cơ sở phát huy lợi thế của việc chuyển đổi tôn giáo, sử dụng tốt nguồn lực nội vùng và nội bộ cộng đồng dân tộc thiểu số ở Nam Bộ.

Nguồn trích: TC Khoa học Xã Hội TP. Hồ Chí Minh / 2014, Số 12 (196), tr. 63-69


3. Ảnh hưởng của Phật Giáo Nam Tông đối với ngôn ngữ, văn học và nghệ thuật của người Khơme Nam Bộ / ThS. Trang Thiếu Hùng
Tóm tắt: Phật giáo có ảnh hưởng lớn đến văn hóa Việt Nam nói chung, đối với văn hóa Khơme Nam Bộ nói riêng. Bài viết phân tích ảnh hưởng của Phật giáo Nam tông đối với văn hóa của người Khơme Nam Bộ trên bình diện ngôn ngữ, văn học và nghệ thuật (kiến trúc, điêu khắc, hội họa). Qua đó, tác giả đã chỉ ra sự cần thiết của việc phát huy giá trị ngôn ngữ, chữ viết và văn học nghệ thuật Khơme.
Nguồn trích: Tạp Chí Khoa học Xã hội Việt Nam / 2014, Số 6(79), tr. 95-102


4. Tác động của các yếu tố truyền thống, phong tục, tập quán của đồng bào Khmer, Phật giáo Nam tông Khmer tới sự phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới / Nguyễn Thúy Anh, Hà Hữu Liền

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả đã nêu lên một số yếu tố truyền thống, phong tục, tập quán của đồng bào Khmer và Phật giáo Nam tông Khmer mang tính nông nghiệp và những phong tục tập quán này xuất phát từ các yếu tố nông nghiệp. Qua đó, tác giả cho thấy đồng bào Khmer là cư dân nông nghiệp từ lâu cùng với văn hóa mang đậm nét nông nghiệp như là: (1) quan niệm về thế giới quan gắn với yếu tố nông nghiệp và hoạt động sản xuất nông nghiệp vốn là ngành nghề chủ lực của đồng bào Khmer; lễ, tết và các hoạt động truyền thống của đồng bào Khmer và Phật giáo Nam tông Khmer được tiến hành tổ chức theo trình tự diễn biến thời tiết, cơ cấu vụ mùa trong năm; (3) một số yếu tố truyền thống, phong tục, tập quán của đồng bào Khmer và Phật giáo Nam Tông ảnh hưởng tốt đến phát triển nông nghiệp và quá trình xây dựng nông thôn mới. Từ đó, tác giả nhấn mạnh để phát triển nền nông nghiệp lâu đời của đồng bào Khmer thì cần chú trọng tới việc phát huy những yếu tố truyền thống mang tính tích cực của đồng bào Khmer nơi đây.

Nguồn trích: Tạp chí Giáo dục Lý luận / 2014, Số 221, tr. 43-47

 

5. Hình tượng điêu khắc ở chùa Khơ me Nam Bộ qua truyện kể dân gian / Phạm Tiết Khánh

Tóm tắt: Theo tác giả, hình ảnh ngôi chùa được xem là nơi hội tụ những giá trị lịch sử, văn hóa, xã hội và cả về nghệ thuật của người Khơme Nam Bộ.  Trong đó, các tác phẩm điêu khắc về các hình tượng có nguồn gốc và ý nghĩa tín ngưỡng xuất phát từ những truyện kể dân gian được xem là điểm nhấn và nét độc đáo riêng biệt trong văn hóa Khơme Nam Bộ. Thông qua bài viết này, tác giả đã trình bày nguồn gốc và ý nghĩa từng tác phẩm điêu khắc mang tính nghệ thuật và đậm chất nhân văn như: (1) hình tượng đầu thần bốn mặt Kabưl Maha Prum; (2) hình tượng rắn thần Naga (rồng) – Neak; (3) hình tượng Rea hu; (4) hình tượng chim thần Krut.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật / 2014, Số 4(358), tr. 19–24


6. Lễ hội tôn giáo của người Khơme Tây Nam bộ - Nhìn từ góc độ giá trị / Võ Văn Thắng, Nguyễn Hùng Cường, Nguyễn Thị Ngọc Thơ
Tóm tắt: Bài viết đề cập đến mối quan hệ giữa lễ hội và lễ hội tôn giáo của người Khơme tại đây. Tác giả cũng đã tìm hiểu về những nét đặc trưng của các lễ hội tôn giáo trong chùa của người Khơme Tây Nam Bộ thông qua một số lễ hội như: lễ Phật Đản, lễ nhập hạ, lễ xuất hạ, lễ dâng y, lễ kiết giới Sima. Qua đó, người viết đã cho thấy được những giá trị cơ bản của các lễ hội tôn giáo trong chùa Khơme Tây Nam Bộ: (1) góp phần làm phong phú lễ hội truyền thống nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung; (2) khắc ghi sâu đậm trong đời sống dân tộc Khơme về sự gắn kết cộng động; (3) cân bằng đời sống tâm linh; (4) chứa đựng tính nhân văn sâu sắc; (5) bảo tồn di sản và trao quyền những giá trị văn hóa dân tộc.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật / 2015, Số 5 (371), tr. 16-20


7. Bảo tồn, phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer vùng Tây Nam Bộ / TS. Lê Văn Lợi

Tóm tắt: Tác giả nhận định rằng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa (GTVH) Phật giáo Nam tông Khmer còn nhiều hạn chế nhất định như: một số ngôi chùa được công nhân di tích cấp quốc gia lại bị xuống cấp chưa được trùng tu kịp thời; việc khai thác các di tích và lễ hội để phát triển du lịch còn hạn chế, công tác quản lý chưa chặt chẽ; việc giảng dạy tiếng Khmer còn nhiều bất cập; nhiều nghệ nhân bảo tồn di sản đã có tuổi; nhiều thanh niên không còn thiết tha với việc tu học tại chùa. Qua đó, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng công tác bảo tồn và phát huy GTVH của người Khmer như: (1) đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức trong việc bảo tồn và phát huy các GTVH; (2) tập trung giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào tại đây; (3) tổ chức tiến hành sưu tập, khảo sát đánh giá lại GTVH; (4) bổ sung hoàn thiện chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị này; (5) nâng cao vai trò của tổ chức Giáo hội Phật giáo.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Chính trị / 2015, Số 4, tr. 56-61


8. Tìm hiểu về dân cư và truyền thống văn hóa của dân tộc Khmer, Chăm, Hoa ở An Giang / Nguyễn Thị Ngọc Thơ

Tóm tắt: An Giang là một tỉnh biên giới ở miền Tây Nam Bộ, có số dân đông nhất Đồng bằng sông Cửu Long và đứng hàng thứ 6 cả nước với nhiều dân tộc sinh sống, trong đó có 3 dân tộc thiểu số có số dân đông và có truyền thống văn hóa với những nét độc đáo riêng mình, đó là dân tộc Khmer, Chăm, Hoa . Thông qua bài viết, tác giả phân tích những giá trị truyền thống của 3 dân tộc trên và chỉ ra những đóng góp của các dân tộc trong việc góp phần hình thành và phát triển các giá trị cốt lõi và bản sắc văn hóa độc đáo truyền thống cho miền đất An Giang nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Đại học An Giang / 2011, Số 6 (2), tr. 10 – 15

 

9. Nghi lễ với mặt trăng của đồng bào Khmer tỉnh An Giang / Chau Mo Ni Sóc Kha

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến các câu chuyện có liên quan để nêu hàm ngôn trong văn hóa phi vặt thể liên quan đến lễ hội mặt trăng ở vùng người Khmer sinh sống như: sự tích con thỏ trên mặt trăng; lễ đút cốm dẹp – nghi lễ nông nghiệp; trăng và văn học nghệ thuật. Qua đó, tác giả cho thấy lễ cúng trăng của đồng bào dân tộc Khmer gắn liền với nghi lễ nông nghiệp, môi trường lao động thì đó cũng là sản phẩm văn hóa vật thể, phi vật thể của văn hóa dân tộc và lễ cúng trăng vẫn trường tồn bền vững trong vùng đồng bào dân tộc Khmer sinh sống.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa – Lịch sử An Giang / 2014, Số 12(117), tr. 24-25


10. Nghi thức cất nhà của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long / Minh Thương

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến nghi thức cất nhà mới của người Khmer ngày nay đơn giản hơn nhưng vẫn giữ được những giá trị nguyên thủy vốn có của nó. Theo tác giả, những nghi thức cất nhà của người Khmer mang đậm dấu ấn văn hóa Phật giáo pha lẫn những tập tục dân gian, trong hầu hết các nghi thức cất nhà không thể thiếu vai trò của Achar – là người đã tu học nhiều năm trong chùa, có được vốn sống, đạo đức và sự hiểu biết sâu sắc về Phật pháp, phong tục tập quán, để đứng ra giúp gia chủ thực hiện các nghi lễ như: (1) lễ cúng bái khi chọn đất, dựng nhà, dọn vào nhà mới; (2) xem ngày hợp với tuổi của gia chủ; (3) cấu trúc của ngôi nhà; (4) cách thức bối trí các vật dụng trong nhà.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa – Lịch sử An Giang / 2014, Số 9(114), tr. 20-21


11. Chùa Khơme ở thủ đô tỏa sáng giá trị văn hóa Khơme Nam Bộ / Nguyễn Văn Hải

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến vị trí của ngôi chùa trong văn hóa của người Khơme Nam Bộ. Qua đó, tác giả cho thấy sự kết tinh giá trị văn hóa của ngôi chùa Khơme Hà Nội  thông qua các yếu tố về kiến trúc, điêu khắc và hội họa đã thể hiện hài hòa như kết tinh nghệ thuật truyền thống và trí sáng tạo của người Khơme. Đồng thời, khẳng định chùa Khơme có sức lan tỏa cao về giá trị văn hóa qua việc tái hiện lại đời sống của cộng đồng các dân tộc, gắn kết chặt chẽ với các hoạt động du lịch, qua đó giới thiệu văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam đến bạn bè quốc tế.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa nghệ thuật / 2015, Số 4 (370), tr. 112 – 114


12. Báo hiếu trong hành vi tôn giáo của cộng đồng Khơ-me Nam Bộ / Huỳnh Ngọc Thu

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả cho rằng báo hiếu là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi con người, mỗi người con phải luôn làm tròn bổn phận đối với cha mẹ như: phụ dưỡng cha mẹ, làm việc thay thế cho cha mẹ, giữ gìn gia phong tốt đẹp, bảo quản tốt tài sản thừa tự, tạo phước hồi hướng khi cha mẹ đã quá vãng. Bên cạnh đó, những hành vi tôn giáo được thể hiện trong bối cảnh văn hóa của người Khơ me vùng Nam Bộ đều cho thấy một mục đích là hướng đến việc báo hiếu của con cái đối với đấng sinh thành như: việc báo hiếu đối với cha mẹ còn tại thế được người Khơ me thể hiện qua những nghi thức cầu an, cầu phúc hay nghi thức truyền thống là tắm báo hiếu cho cha mẹ; đối với người không còn cha mẹ việc báo hiếu thông qua các nhà sư như dâng cơm cho sư, con cái thực hiện nghi thức đi tu và tu trước lửa. Qua đó, tác giả cho rằng những hành vi đó đã đem đến những giá trị to lớn trong đời sống xã hội của cộng đồng như: giá trị mang tính giáo dục; giá trị mang tính cố kết cộng đồng; giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống để lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Nguồn trích: Tạp chí Dân tộc học / 2015 Số 3(191), tr. 44 – 51


13. Quan niệm về cái ăn của người Khmer Nam Bộ / ThS. Nguyễn Hùng Cường

Tóm tắt: Bài viết giới thiệu đôi nét về văn hóa ẩm thực của người Khmer vùng Tây Nam Bộ như: (1) các món ăn thường ngày (món ăn dân dã, món ăn sang trọng); (2) các món ăn trong sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo – lễ hội (ở lễ Dolta, lễ Okombok, lễ Chol Chnam Thmay, lễ cúng Arak Phteah, lễ cúng Arak Veal, lễ cúng sân lúa, lễ hỏi, lễ cưới); (3) các loại bánh, mứt và thức uống (người Khmer ít dùng vị ngọt hơn so với các dân tộc cùng cộng cư, họ cũng ít ăn chay hơn người Việt hoặc người Hoa và thói quen sử dụng một số loại thức uống); (4) ăn uống dưới khía cạnh y học. Qua đó, tác giả trình bày những nét đặc trưng riêng biệt về văn hóa ẩm thực của người Khmer ở từng vùng như: người Khmer ở Trà Vinh với đồng tộc ở Campuchia; người Khmer Trà Vinh với các tộc người cư dân bản địa trên địa bàn tỉnh (Việt, Hoa); người Trà Vinh với các tộc người cư dân bản địa vùng Tây Nam Bộ (Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ). Bên cạnh đó, văn hóa ẩm thực của đồng bào Khmer có sự giao lưu, tiếp biến với các dân tộc cùng cộng cư ở Trà Vinh và với các nước Tây Âu, đồng thời ẩm thực của dân tộc này còn gắn liền với các truyện tích trong văn học dân gian.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa – Lịch sử An Giang / 2013, Số 2, tr. 10-13, 20


14. Vài đặc điểm về đời sống tâm linh của người Khmer Nam Bộ / Liêu Ngọc Ân

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến những đặc điểm văn hóa của người Khmer Nam Bộ trong đời sống tâm linh như: (1) quan niệm về cuộc sống thiên về giá trị tinh thần hơn là vật chất nên các giá trị của Phật giáo đã được truyền bá sâu rộng trong cộng đồng người Khmer; (2) họ có nhiều truyền thuyết, tín ngưỡng, kiến trúc điêu khắc chùa chiền, hệ thống lễ hội tâm linh dân gian như (hình thức nghi thức thờ, cúng vái Ông Tà rất đa dạng; việc ăn ở  của đồng bào Khmer Nam Bộ cũng mang đậm chất tín ngưỡng dân gian); (3) trong đời sống tinh thần của cộng đồng luôn tin tưởng vào sự hiện thân của ma thuật và bùa chú. Từ đó, tác giả cũng cho thấy chính những nét đẹp trong đời sống tâm linh này đã phản ánh được đặc trưng nền văn hóa phong phú và đa dạng của người Khmer vùng Nam Bộ.
Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa – Lịch sử An Giang / 2013, Số 10(103), tr. 18-20

 

Tổng hợp: Nguyễn Thị Cẩm Thiêu