Hiệp định thương mại tự do (FTA viết tắt của chữ tiếng Anh Free trade agreement) về cơ bản, là hiệp định trong đó các nước tham gia ký kết thỏa thuận dành cho nhau những ưu đãi, đó là các hàng rào thương mại kể cả thuế quan và phi thuế quan đều được loại bỏ, song mỗi nước thành viên vẫn được tự do quyết định những chính sách thương mại độc lập của mình đối với các nước không phải thành viên của hiệp định.
 
Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP là cụm từ viết tắt của tiếng Anh “Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement”) là Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương hay Hiệp định thương mại xuyên thái bình dương. TPP là một hiệp định thương mại tự do nhiều bên, được coi như một hiệp định thương mại tự do thế hệ thứ 2 với mục tiêu thiết lập một mặt bằng tự do chung cho các nước khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

1. Việt Nam tham gia các hiệp định FTA: Thực trạng, cơ hội và thách thức/ ThS. Trần Thị Trang
Tóm tắt: Bài viết giới thiệu thực trạng tham gia FTA của Việt Nam: Việt Nam rất tích cực tham gia đàm phán, ký kết các Hiệp định FTA song phương và đa phương. Bên cạnh đó, bài viết còn giới thiệu các thời cơ khi Việt Nam tham gia các hiệp định FTA như: (1) EU là một trong những thị trường nhập khẩu hàng hóa lớn của Việt Nam; (2) Góp phần thúc đẩy toàn diện quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược Việt Nam – Hàn Quốc; (3) Liên minh Hải quan (gồm Nga, Belarus, Kazakhastan) là thị trường rộng lớn, mới mở cửa, có mức tăng trưởng GDP khá và tương đối ổn định. Đồng thời, bài viết còn liệt kê các thách thức như là: (1) Về năng lực quản lý, thách thức đặt ra với cơ quan quản lý nhà nước cần phải hoàn thiện và bổ sung cơ chế, chính sách về phát triển các ngành công nghiệp nội địa; (2) Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn yếu; (3) Việt Nam đôi khi còn bị lôi cuốn theo tình thế, thiếu nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn, chưa có chiến lược bài bản rõ ràng. Cuối cùng, bài viết đưa ra các giải pháp cho Việt Nam khi tham gia các FTA:  (1) Sớm hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển, đầu tư đáp ứng, phù hợp trong bối cảnh nhập; (2) Hoàn thiện chính sách thương mại cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam và không gây xung đột với với các cam kết trong các Hiệp định FTA Việt Nam đã hoặc sẽ tham gia; (3) Cần chủ động điều chỉnh cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu và thị trường trong nước theo định hướng Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam thời kì 2011 – 2010.
Nguồn trích: Tạp chí Tài chính/ 2015, Số 3 (605), tr. 8 – 11

2. Nhận diện các vấn đề mới của hội nhập, giải pháp để tham gia TPP và FTA hiệu quả/  GS.TS. Đỗ Đức Bình

Tóm tắt:  Bài viết giới thiệu những vấn đề mới của hội nhập như là: (1)  Cuối năm 2015, Việt Nam sẽ chính thức tham gia vào cộng đồng kinh tế ASEAN; (2) Việt Nam và các nước thành viên đang xúc tiến đàm phán để sớm ký Hiệp định TPP; (3) Năm 2018, Việt Nam sẽ phải thực hiện nền kinh tế thị trường đầy đủ (không phải là phi thị trường như hiện nay). Bên cạnh đó, bài viết cũng giới thiệu về những nhận diện thách thức như: (1) Hội nhập với bên ngoài tuy đã được đẩy mạnh, tích cực trong đàm phán ký kết các hiệp định FTA nhưng hội nhập bên trong diễn ra chậm; (2) Mặc dù hệ thống pháp luật, chính sách của Việt Nam đã được rà soát, xây dựng mới và từng bước được hoàn thiện nhưng nhìn chung vẫn chưa đầy đủ, đồng bộ, nhất quán và ổn định; (3) Nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế, về sự tham gia các tổ chức kinh tế thương mại khu vực và toàn cầu, các FTA…chưa thật đầy đủ và vẫn còn có sự gò bó về “tư duy, quan điểm”; (4) Hạn chế, bất cập trong tư duy, nhận thức về nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp và hàng hóa của Việt Nam; (5) Chưa xây dựng được ngành kinh tế mũi nhọn, ngành công nghiệp phụ trợ để tận dụng các cơ hội của hội nhập. Cuối cùng, bài viết đưa ra các giải pháp để Việt Nam tham gia có hiệu quả TPP và các hiệp định FTA: (1) Đổi mới mạnh mẽ hơn trong hợp tác và phát triển; (2) Phải thực sự coi trọng và làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, nâng cao kỹ năng trong hội nhập kinh tế quốc tế gắn với yêu cầu phát triển bền vững, phát triển xanh; (3) Tạo cơ chế, chính sách mới phát huy tối ưu các lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp trong phân công lao động và hợp tác quốc tế; (4) Tiếp tục đổi mới chính sách thu hút FDI theo hướng không quá nhấn mạnh số lượng mà là chất lượng, thu hút có điều kiện về cả kinh tế, xã hội và môi trường; (5) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả và năng lực quản lý, kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Nguồn trích: Tạp chí Tài chính/ 2015, Số 3 (605), tr. 12 – 14


3. Cắt giảm thuế theo cam kết của các hiệp định FTA và tác động đến kinh tế Việt Nam/ TS. Nghiêm Văn Bẩy

Tóm tắt: Bài viết giới thiệu các hiệp định FTA và vấn đề cắt giảm thuế: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN, khu vực mậu dịch tự do  ASEAN – Trung Quốc, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN – Hàn Quốc, Khu vực thương mại tự do – Nhật Bản, Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam – Nhật Bản, Hiệp định FTA ASEAN – Australia – New Zealand, Hiệp định FTA ASEAN - Ấn Độ, Hiệp định FTA Việt Nam – Chile. Bên cạnh đó, bài viết còn giới thiệu những tác động đến nền kinh tế: (1) Hội nhập đã góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo thuận lợi cho phát triển; (2) Giúp Việt Nam tránh phụ thuộc vào các thị trường truyền thống mà còn đa dạng hóa thị trường xuất khẩu; (3) Việt Nam đã tạo ra cơ hội to lớn trong thu hút đầu tư nước ngoài, chuyển dịch luồng vốn đầu tư vào Việt Nam; (4) Một số ngành nông nghiệp mà Việt Nam có lợi thế sẽ tận dụng được cơ hội từ việc hội nhập để có các nguồn nguyên liệu làm đầu vào cho sản xuất và giảm chi phí đối với hàng hóa xuất khẩu. Cuối cùng, bài viết cũng đưa ra một số nhận xét và hàm ý: (1) Việt Nam đã bị tổn thương trước những cú sốc từ bên ngoài trong thời gian qua; (2) Giảm thuế nhập khẩu thì thu thuế nhập khẩu sẽ giảm; (3) Mức độ tự do hóa thương mại hàng hóa cao hơn nhiều cam kết trong WTO.
Nguồn trích: Tạp chí Tài chính/ 2015, Số 3 (605), tr. 15 – 18


4. Việt Nam tham gia các Hiệp định FTA: Doanh nghiệp đã sẵn sàng?/ TS. Ngô Tuấn Anh, Phạm Thị Thanh Huyền
Tóm tắt: Bài viết giới thiệu nhiều cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam như: (1) Mở rộng thị trường và hội nhập quốc tế, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu; (2) Thanh lọc, phát triển được các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh; (3) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo thêm nhiều việc làm. Đồng thời, bài viết còn giới thiệu những thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam như: (1) Đối mặt với nhiều rào cản phi thuế quan; (2) Năng lực cạnh tranh của hệ thống doanh nghiệp còn yếu, nguy cơ mất thị trường nội địa; (3) Nhận thức về các FTA  và năng lực hội nhập quốc tế của các doanh nghiệp còn hạn chế; (4) Thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện. Cuối cùng, bài viết đưa ra một số kiến nghị như: (1) Việt Nam cần nhìn nhận lại sâu sắc các vấn đề cho việc điều chỉnh chiến lược hội nhập trong thời gian tới; (2) Việt Nam phải nỗ lực cải cách mạnh mẽ, nhanh và toàn diện về thể chế kinh tế thị trường; (3) Cần phải có ý chí chính trị của chính phủ, quyết tâm cao của doanh nghiệp, nếu không cơ hội sẽ bị bỏ lỡ và rủi ro, tổn thất có thể lớn hơn.
Nguồn trích: Tạp chí Tài chính/ 2015, Số 3 (605), tr. 19 – 22


5. Hiệp định TPP và những “cú hích” cho kinh tế Việt Nam/ PGS. TS. Phan Tố Uyên

Tóm tắt: Bài viết giới thiệu tổng quan về TPP trong nền kinh tế toàn cầu có các đặc điểm như sau: Tiếp cận thị trường toàn diện, Hiệp định khu vực toàn diện, các vấn đề thương mại xuyên suốt. Bên cạnh đó, bài viết còn giới thiệu dự báo những tác động tích cực của TPP đến kinh tế Việt Nam như: (1) Giúp Việt Nam tăng trưởng xuất khẩu và có một số cơ cấu thương mại theo thị trường cân bằng hơn; (2) Tạo điều kiện tốt để hoàn thiện thể chế kinh tế và cải cách hành chính quốc gia; (3) “Cú hích” giúp Việt Nam thu hút được dòng FDI với giá trị lớn hơn. Đồng thời, bài viết đưa ra những tác động tiêu cực: (1) Nguy cơ mất khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam tại chính thị trường nội địa; (2) Giảm nguồn thu ngân sách từ thuế nhập khẩu, tăng chi phí cải cách hành chính của Chính phủ và các chi phí của doanh nghiệp; (3) Tác động tiêu cực từ việc mở cửa thị trường mua sắm công. Cuối cùng, bài viết đưa ra một số định hướng giải pháp: (1) Đổi mới công tác xây dựng pháp luật trong nước; (2) Tích cực tham vấn ý kiến của doanh nghiệp, chuyên gia và các đối tượng liên quan; (3) Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành nội địa; (4) Thực hiện các bước đi để các thành viên còn lại trong TPP thừa nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường; (5) Kiên quyết bảo vệ các lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và nền kinh tế trên bàn đàm phán; (6) Cải cách luật lao động; (7) Tiếp tục xử lý vấn đề nguồn gốc xuất xứ hàng hóa xuất khẩu; (8) Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ.

Nguồn trích: Tạp chí Tài chính/ 2015, Số 3 (605), tr. 23 – 26


6. Hiệp định FTA Việt Nam – EU: Cơ hội mới và những khuyến nghị cho Việt Nam/ TS. Đoàn Hương Quỳnh
Tóm tắt: Bài viết giới thiệu những tiềm năng từ thị trường lớn: (1) Là thị trường tiêu thụ rộng lớn cho hàng Việt Nam; (2) Thị phần của EU trong tổng thương mại thế giới chiếm khoảng 24,7 % xuất khẩu và 21,2 % nhập khẩu; (3) EU là đối tác đầu tư FDI hàng đầu của Việt Nam với 23/28 nước thành viên EU có các dự án đầu tư vào Việt Nam. Đồng thời, bài viết còn giới thiệu những vận hội và thách thức với Việt Nam như: (1) Hiệp định EVFTA sẽ giúp mở rộng hơn nữa thị trường cho hàng xuất khẩu; (2) Hiệp định EVFTA sẽ giúp ta thực hiện chủ trương đa dạng hóa quan hệ kinh tế - thương mại; (3) Hiệp định EVFTA sẽ thiết lập cơ chế ưu đãi ổn định cho hàng xuất khẩu của Việt Nam mà không phụ thuộc vào Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của EU; (4) Hiệp định EVFTA sẽ giúp thúc đẩy luồng vốn đầu tư chất lượng cao của EU vào Việt Nam. Cuối cùng, bài viết còn đưa ra một số khuyến nghị như: (1) Cần phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo các chuẩn mực quốc tế; (2) Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hoàn thiện tái cấu trúc và chuyển đổi mô hình tăng trưởng tại các khu vực kinh tế trọng điểm trong cả nước; (3) Việt Nam cần phải định hướng xây dựng ngành kinh tế mũi nhọn nhằm tận dụng cơ hội của FTA với EU; (4) Hoàn thiện cơ chế quản lý và giám sát các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; (5) Chính phủ cần hỗ trợ doanh nghiệp bằng các giải pháp như xây dựng hệ thống kế toàn quản trị, tăng cường năng lực cạnh tranh, bồi dưỡng khả năng kinh doanh quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp.

Nguồn trích: Tạp chí Tài chính/ 2015, Số 3 (605), tr. 27 – 29


7. Hiệp định  FTA Việt Nam – Hàn Quốc: Động lực thúc đẩy hợp tác kinh tế song phương/ Vụ Kinh tế Tổng hợp
Tóm tắt: Bài viết giới thiệu quốc gia Hàn Quốc – Đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam: (1) Bối cảnh hợp tác kinh tế giữa hai nước Việt Nam và Hàn Quốc có những bước phát triển rất nhanh chóng và thực chất; (2) Hiệp định FTA Việt Nam – Hàn Quốc cũng là bước đi quan trọng của hai nước nhằm tận dụng các cơ hội từ xu hướng gia tăng liên kết và hội nhập kinh tế trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Bên cạnh đó, bài viết còn đưa ra các lợi ích cho cả hai phía: (1) Nền kinh tế đã có những bước phát triển ngoạn mục trong những thập kỉ vừa qua; (2) Vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ 15 trên thế giới, thứ 3 tại Đông Nam Á; (3) Hàn Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ 12 trên thế giới vào năm 2020; (4) Là cơ hội để các doanh nghiệp Hàn Quốc tranh thủ những cơ hội kinh doanh – đầu tư tại Việt Nam. Cuối cùng, bài viết đưa ra việc chủ động tận dụng các cơ hội như : (1) Việt Nam sẽ tiếp tục đòi hỏi những nổ lực đồng bộ từ Chính phủ cũng như các bộ ngành, địa phương và doanh nghiệp trong nước; (2) Sự chủ động của các doanh nghiệp trong việc nắm bắt thông tin và tận dụng các cơ hội từ Hiệp định FTA Việt Nam – Hàn Quốc là rất cần thiết.

Nguồn trích: Tạp chí Tài chính/ 2015, Số 3 (605), tr. 30 – 32

 

8. Kinh nghiệm quốc tế về triển khai hiệp định FTA và bài học cho Việt Nam/ TS. Nguyễn Thị Tường Anh, ThS. Nguyễn Thị Minh Thư
Tóm tắt: Bài viết giới thiệu những kinh nghiệm triển khai Hiệp định FTA của một số nước như: Trung Quốc, Hàn Quốc. Cuối cùng, bài viết đưa ra các bài học cho Việt Nam: (1) Chỉ bảo hộ những mặt hàng mà sản xuất trong nước đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, có tiềm năng phát triển về sau;  (2) Bảo hộ phải được thống nhất  thực hiện cho mọi thành phần kinh tế; (3) Chính sách bảo hộ phải được quy định cho từng trường hợp, từng thời gian và không bảo hộ vĩnh viển cho bất kì hàng hóa nào; (4) Bảo hộ thị trường trong nước nhưng phải phù hợp với các tiến trình tự do hóa thương mại và các hiệp định quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.

Nguồn trích: Tạp chí Tài chính/ 2015, Số 3 (605), tr. 35 – 36

 

9. Hiệp định ATIGA: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam/ ThS. Phạm Thị Ngoan
Nguồn trích: Tạp chí Tài chính/ 2015, Số 3 (605), tr. 33 – 34

 

 

Tổng hợp: Võ Hồng Thơ