1. Phân biệt một số tội phạm có hành vi chiếm đoạt tài sản/ Đinh Văn Quế

Tóm tắt: Thực tiễn quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án có tính chất chiếm đoạt tài sản, cơ quan tiến hành tố tụng thường nhầm lẫn trong việc định tội danh do dấu hiệu pháp lý đặc trưng của những tội phạm này có điểm tương đồng, như Tội cướp tài sản với Tội cưỡng đoạt tài sản; Tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản... Việc phân biệt loại tội phạm này cần căn cứ vào chủ thể tội phạm; động cơ, mục đích của người phạm tội và điều kiện thực tế để đánh giá.

Nguồn trích: Tạp chí Kiểm sát/ 2021, Số 3, Tr.17-22

2. Vướng mắc khi thực hành quyền công tố trong giải quyết nguồn tin về tội phạm lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông/ Nguyễn Quốc Hân

Tóm tắt: Trong thực tế, khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận, xử lý nguồn tin về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông vẫn còn có những nhận thức khác nhau về thẩm quyền thụ lý, định tội danh để khởi tố vụ án về các tội xâm phạm sở hữu hay xâm phạm an toàn công cộng. Đây cũng là nguyên nhân phát sinh những khó khăn cho Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giải quyết các tin báo về tội phạm thuộc lĩnh vực này.

Nguồn trích: Tạp chí Kiểm sát/ 2021, Số 4, Tr.30-35

3. Các yếu tố tác động đến sự hình thành nhân thân người phạm các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người/ Nguyễn Vinh Huy

Tóm tắt: Nhân thân của người phạm tội xâm phạm nhân phẩm danh dự tuy không phải là yếu tố bắt buộc trong mọi cấu thành tội phạm xâm phạm nhân phẩm danh dự, nhưng những đặc điểm về nhân thân của người phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Đặc điểm nhân thân có ý nghĩa quan trọng trong định tội danh, quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm nhân phẩm danh dự của con người. Trong bài viết này, tác giả trình bày các vấn đề: 1) Các khái niệm; 2) Phân loại nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người; 3) Đặc trưng nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người; 4) ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự người khác.

Nguồn trích: Tạp chí Công Thương/ 2018, Số 2, Tr.20-26

4. Bàn về tội phạm xâm phạm quyền hữu công nghiệp theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017/ Trần Hữu Tuyên

Tóm tắt: Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp được quy định tài Điều 226 Bộ luật hình sự năm 2015. So với quy định về tội danh này tại điều 171 Bộ luật hình sự năm 1999 thì Điều 226 Bộ luật hình sự năm 2015 đã quy định rõ hơn các dấu hiệu định tội danh, đảm bảo tính minh bạch và tạo điều kiện thuân lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình áp dụng pháp luật như: Xác định cụ thể số tiền thu lợi bất chính hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền, trị giá hàng hóa vi phạm; đặc biệt là phân định rõ trách nhiệm hình sự của các chủ thể tội phạm là cá nhân và pháp nhân thương mại.

Nguồn trích: Tạp chí Nghề Luật/ 2020, Số 6, Tr.50-56

5. Việc định tội danh đối với hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy = Making criminal charges for acts of illegally storing and trading narcotic substances/ Mã Văn Hùng

Tóm tắt: Bài viết trao đổi về thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249) và tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251), là hai loại tội đang diễn ra phổ biến và có nhiều ý kiến chưa thống nhất trong việc xác định tội danh giữa các cơ quan, người tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm.

Nguồn trích: Tạp chí Kiểm sát/ 2018, Số 15, Tr.47-49

6. Vấn đề định tội đối với tội giết người theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành (phần 2) = Issues of criminal charges for the murder under the current Criminal Code (part 2)/ Đoàn Trọng Chỉnh, Lê Thị Minh Thư

Tóm tắt: Tội giết người được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự hiện hành, “là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 14 tuổi trở lên thực hiện". Các quy định của pháp luật cũng như lý luận về tội danh này tương đối rõ ràng. Tuy nhiên, trên thực tế, khi áp dụng quy định của pháp luật về tội danh này, các cơ quan tiến hành tố tụng gặp không ít khó khăn khi định tội. Một trong những khó khăn đó là xác định hành vi thỏa mãn dấu hiệu của Tội giết người hay Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Dù đã có nhiều hướng dẫn giải quyết hai tội phạm này như Nghị quyết số 01/NQ ngày 19/4/1989, Nghị quyết số 04/NQ ngàv 29/11/1996 của Hội đồng thẩm phán và Công văn số 03/CV ngày 22/10/1987, số 140/CV ngày 11/12/1998 của Tòa án nhân dân tối cao nhưng vẫn chưa đáp ứng hết những yêu cầu cụ thể riêng biệt để áp dụng thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là giai đoạn hiện nay. Khi cùng một hành vi phạm tội nhưng định tội danh khác nhau bởi mặt khách quan của Tội giết người và Tội cố ý gây thương tích khá giống nhau. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến người phạm tội cũng như chính cơ quan tiến hành tô tụng. Tiếp nối Phần 1 tác giả đã trình bày về trường hợp thứ nhất (Tạp chí Công Thương, Ấn phẩm Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ số 9 tháng 5/2019), trong bài này tác giả sẽ trình bày tiếp nội dung của trường hợp hai “Phân biệt Tội giết người với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác dẫn đến hậu quả chết người”.

Nguồn trích: Tạp chí Công thương/ 2019, Số 10, Tr.13-17

7. Về tình tiết định tội, định khung của Tội tàng trữ trái phép chất ma túy/ Lê Minh Tân

Tóm tắt: Việc áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 còn có vướng mắc, do điểm này chưa quy định rõ về đối tượng áp dụng. Bên cạnh đó, trong quá trình áp dụng pháp luật cần phân biệt rõ tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Nguồn trích: Tạp chí Kiểm sát/ 2021, Số 5, Tr.56-58

8. Phân biệt tội tham ô tài sản với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản/ Bùi Thị Hạnh, Nguyễn Quý Khuyến

Tóm tắt: Tuy có nhiều điểm tương đồng nhưng giữa tội tham ô tài sản và tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng riêng. Việc phân biệt hai tội danh này có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh của các cơ quan tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự.

Nguồn trích: Tạp chí Kiểm sát/ 2021, Số 1, Tr.30-34

9. Áp dụng thống nhất pháp luật về các tội danh liên quan đến mua bán người/ Nguyễn Văn Tùng

Tóm tắt: Bộ luật hình sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã hướng dẫn cụ thể hóa nhiều tình tiết định tội, định khung hình phạt về mua bán người, tuy nhiên, hiện nay vẫn còn có cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc áp dụng pháp luật. Bài viết tập trung phân tích, chỉ rõ các khía cạnh pháp lý để áp dụng thống nhất pháp luật về các tội danh liên quan đến mua bán người.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Kiểm sát/ 2020, Số 39, Tr.34-40

10. Mặt khách quan của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)/ Lê Thị Minh Thư

Tóm tắt: Bài viết phân tích về mặt khách quan của tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung (SĐ, BS) năm 2017) và một số khó khăn vướng mắc trên thực tế khi xác định các yếu tố thuộc mặt khách quan để định tội đối với tội danh này.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Kiểm sát/ 2020, Số 41, Tr.10-16

11. Tội gây rối trật tự phiên toà, phiên họp dưới góc độ kỹ thuật lập pháp = Disruption in court and panel from the perspective of legislation techniques/ Nguyễn Ngọc Hòa

Tóm tắt: Trên cơ sở khái quát nội dung quy định về tội gây rối trật tự phiên toà, phiên họp tại Điều 391 Bộ luật Hình sự năm 2015, bài báo đề cập những hạn chế về kỹ thuật lập pháp ở Điều luật này, trong đó tập trung vào dấu hiệu mà tạm được đặt tên là dấu hiệu “loại trừ”: đánh giá mối quan hệ giữa dấu hiệu định tội và dấu hiệu định khung cũng như tính không chính xác của dấu hiệu “loại trừ” tại các khoản 1 và 2 của Điều 391 Bộ luật Hình sự và đưa ra nhận định về hệ quả không mong muốn khi áp dụng dấu hiệu này trong thực tiễn.

Nguồn trích: Tạp chí Luật học/ 2020, Số 7, Tr.22-30

12. Bình luận về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ/ Đinh Văn Quế

Tóm tắt: So với điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 - Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ đã có sự thay đổi về tên tội danh, sửa đổi, bổ sung các tình tiết là dấu hiện định tội, định khung hình phạt, mở rộng phạm vi áp dụng đối với hành vi vi phạm, không chỉ đối với người điều khiển phương tiện giao thông mà đối với bất kỳ ai khi tham gia giao thông đều là đối tượng điều chỉnh của tội phạm này.

Nguồn trích: Tạp chí Kiểm sát/ 2020, Số 11, Tr.23-33

13. Bàn về tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người trong Bộ luật hình sự năm 2015/ Mạc Minh Quang, Ngô Ngọc Diễm

Tóm tắt: Điều 240 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định hành vi làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, còn có nhiều cách hiểu khác nhau khi áp dụng. Bài viết này với mục đích làm rõ hơn dấu hiệu hành vi định tội trước và sau khi Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/03/2020 hướng dẫn xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch Covid.

Nguồn trích: Tạp chí Nghề Luật/ 2020, Số 5, Tr.39-43