1. Tác động của già hoá dân số đến chi tiêu công: Nghiên cứu với dữ liệu mảng cấp quốc gia/ Nguyễn Thị Hoài Thu, Phạm Phương Anh, Bùi Hồng Trang, Phạm Thu Hằng, Cao Hải Vân

Tóm tắt: Sử dụng dữ liệu mảng cấp quốc gia cho 52 nước trong giai đoạn 2003- 2019 và kỹ thuật ước lượng moment tổng quát hệ thống (SGMM), nghiên cứu này đánh giá tác động của già hóa dân số đến chi tiêu công. Kết quả ước lượng cho thấy sự gia tăng tỷ số phụ thuộc già làm tăng tỷ trọng chi tiêu dành cho chăm sóc sức khỏe, chi bảo trợ xã hội, nhưng lại làm giảm đáng kê tỷ trọng chi tiêu cho giáo dục, chi tiêu dịch vụ công và chi cho các vấn đề kinh tế của Chính phủ. Đối với tỷ trọng chỉ tiêu của Chính phủ so với GDP, tỷ trọng này giảm xuống khi tỷ số phụ thuộc già tăng lên. Kết hợp với ảnh hưởng của sự giảm xuống trong tỷ số phụ thuộc trẻ, nghiên cứu này một lần nữa khẳng định già hóa dân số có tác động đến chi tiêu của Chính phủ. Đặc biệt, ảnh hưởng làm thay đổi cơ cấu chi tiêu công cần được lưu ý bởi cơ cấu này có thể tác động đến nhiều mặt kinh tế - xã hội khác, trong đó có tăng trưởng kinh tế. Điều này đặt ra thách thức đối với Chính phủ trong việc xây dựng các kế hoạch ngân sách hợp lý, thích ứng với vấn đề già hóa dân số và đảm bảo các mục tiêu phát triển trong dài hạn.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng - Học viện Ngân hàng/ 2021, Số 227, Tr.12-23

2.Tham gia hoạt động kinh tế của người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số = Participation of the elder people in economic activities in ageing society/ Trần Thị Minh Thi, Nguyễn Hà Đông

Tóm tắt: Trong xã hội Việt Nam đang già hóa, việc nghiên cứu về vai trò kinh tế của người cao tuổi là một chỉ báo cần thiết để tìm hiểu tính tích cực xã hội của người cao tuổi trong xã hội hiện nay. Bài viết sử dụng số liệu Đề tài cấp Bộ “Vai trò người cao tuổi trong xã hội Việt Nam đang già hóa" do Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới chủ trì, thực hiện trong 2019-2020 để phân tích vai trò của người cao tuổi trong hoạt động kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính cần thiết của việc áp dụng cách tiếp cận hoạt động sản xuất để có thể nhìn nhận đầy đủ và toàn diện hơn về vai trò kinh tế và những đóng góp kinh tế của người cao tuổi. Dù tỷ lệ người cao tuổi làm công ăn lương thấp và tỷ lệ người cao tuổi tự sản xuất kinh doanh không cao nhưng tính chung lại đại đa số người cao tuổi vẫn tiếp tục tham gia các hoạt động sản xuất khác nhau khi bước qua tuổi 60.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Gia đình & Giới/ 2020, Số 04, Tr.3 - 15

3. Mối quan hệ giữa già hóa dân số và phát triển kinh tế - Một số hàm ý chính sách/ Trần Thị Thu Trang

Tóm tắt: Già hóa dân số đang diễn ra ở tất cả các khu vực và quốc gia với tốc độ khác nhau, trong đó quá trình già hóa dân số diễn ra đặc biệt nhanh ở các quốc gia đang phát triển. Có thể nói, già hóa dân số là kết quả của quá trình phát triển, khi chất lượng sống được cải thiện thì tuổi thọ của con người cũng được nâng cao. Tuy nhiên, già hóa dân số cũng tạo ra nhiều thách thức cho phát triển kinh tế cũng như các dịch vụ an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Vì lý do đó mà già hóa dân số luôn được coi trọng trong hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhiều nước.

Nguồn trích: Tạp chí Cộng sản/ 2020, Số 956, Tr. 63 – 68

4. Xu thế già hóa dân số ở nước ta và vấn đề chăm sóc sức khỏe, sử dụng lao động người cao tuổi/ ThS. Trịnh Thị Thu Hiền

Tóm tắt: Dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong công tác dân số, chăm sóc người cao tuổi có ý nghĩa quan trọng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (Nghị quyết số 21 - NQ/TW) về công tác dân số trong tình hình mới đề ra mục tiêu thời gian tới phấn đấu tuổi thọ bình quân người dân đạt 75 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; 100% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế, được quản lý sức khỏe, được khám, chữa bệnh, được chăm sóc tại gia đình, cộng đồng và các cơ sở chăm sóc tập trung.

Nguồn trích: Tạp chí Cộng sản

5. Thực hiện an sinh xã hội cho người cao tuổi trước xu thế già hóa dân số ở Hà Nội hiện nay: Thực trạng và giải pháp/ Lã Minh Tuyến

Tóm tắt: Hiện nay, phần lớn người cao tuổi ở Hà Nội, đặc biệt là các huyện ngoại thành không có lương hưu, trợ cấp xã hội và thẻ bảo hiểm y tế; việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chất lượng chăm sóc sức khỏe, khả năng chi trả của người cao tuổi cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe còn nhiều hạn chế... Thực trạng đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt hơn nữa các chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi ở Hà Nội. Bài viết bước đầu khái quát khung khổ pháp lý, kết quả thực hiện chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi ở Hà Nội, từ đó chỉ ra nguyên nhân và đề xuất một số kiến nghị trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi ở Hà Nội.

Nguồn trích: Tạp chí Giáo dục Lý luận/ 2021, Số 319, Tr.87-93

6. Giải pháp thích ứng với già hóa dân số nhanh ở Việt Nam/ TS. Đỗ Văn Quân

Tóm tắt: Già hóa dân số phản ánh quá trình chuyển đổi cơ cấu dân số theo hướng tăng tỷ trọng dân số già, được thể hiện qua chỉ số già hóa. Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh và điều này đã tạo ra những thách thức to lớn trong ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, đặt ra yêu cầu đổi mới trong các chính sách xã hội. Trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân gia tăng dân số già ở Việt Nam, bài viết đề xuất các giải pháp thích ứng với già hóa dân số kịp thời, toàn diện.

Nguồn trích: Tạp chí Lý luận Chính trị/ 2021, Số 4, Tr.75 - 80 

7. Xu hướng già hóa dân số và chính sách xã hội cho người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay/ Đặng Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Trung Hiếu

Tóm tắt: Già hóa dân số đang là một trong những vấn đề trọng tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nâng cao chất lượng đời sống và gia tăng tuổi thọ trung bình là đánh dấu thành tựu của quá trình phát triển. Tuy nhiên đồng thời với gia tăng tuổi thọ và mức sinh thay thế không được duy trì tất yếu dẫn đến già hóa dân số. Dân số già trong tương lai sẽ làm tăng gánh nặng kinh tế - xã hội hơn, nếu Việt Nam không có những giải pháp chính sách thích ứng kịp thời thì trong tương lai không xa chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều khủng hoảng về thị trường lao động, bảo trợ xã hội cho người cao tuổi cũng như cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản trong bối cảnh dân số già.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Chính sách và Quản lý - Đại học Quốc gia Hà Nội/ 2021, Số 2, Tr.21-29

8. Nâng cao chất lượng dân số đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững/ Minh Linh

Tóm tắt: Công tác dân số luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và coi đó là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước. Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 về công tác dân số trong tình hình mới của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) đã khẳng định quan điểm chỉ đạo của Đảng: “Chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo đảm phát triển nhanh và bền vững”. Quán triệt tinh thần của Nghị quyết, công tác dân số thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, chất lượng dân số được cải thiện; nhiều văn bản đã được ban hành để định hướng cho công tác dân số trong thời gian tới nhằm nâng cao chất lượng dân số đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

Nguồn trích: Tạp chí Con số và Sự kiện/ 2021, Số 4, Tr. 29-31

9. Biến động dân số và thực hiện chính sách quốc gia về dân số ở nước Nga và Việt Nam hiện nay = Population changes and the implementation of national policies on population in Russia and Vietnam/ Lương Đình Hải, SV. Ryazantsev

Tóm tắt: Theo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân số là một trong những yếu tố căn bản của tồn tại xã hội, cùng với điều kiện tự nhiên và phương thức sản xuất, xét đến cùng, quy định tất cả các phương diện khác nhau của đời sống xã hội. Dân số không chỉ xét về mặt số lượng mà quan trọng là mặt chất lượng. Chất lượng dân số tốt cũng có nghĩa là chất lượng con người tốt, chất lượng nhân lực tốt. Nhân lực tốt, tức là bộ phận quyết định nhât trong lực lượng sản xuất - người lao động, cũng tốt. Nhờ đó mà nền sản xuất và đời sống xã hội mới có thể tốt đẹp trên các phương diện khác nhau. Theo nghĩa đó, con người là trung tâm, là chủ thể, là động lực, là mục tiêu, là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia. Bởi vậy, ngày nay, các quốc gia đều rất chú trọng vào chất lượng dân số. Việt Nam và Nga cũng không phải là ngoại lệ. Mặc dù mỗi nước có những tiền đề, điều kiện, bối cảnh đặc thù thì bên cạnh những vấn đề chung về an ninh dân số, phát triển dân số còn có những vấn đề được đặt ra theo những cách riêng, đặc thù. Việc giải quyết các vấn đề về đảm bảo an ninh và phát triển dân số của mỗi nước có thể là bài học hoặc gợi ý hữu ích về chính sách cho nhau trong lĩnh vực này.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Con người/ 2021, Số 2, Tr.3-14

10. Hoạch định chính sách dân số thích ứng với già hóa dân số ở Việt Nam/ ThS. Lê Hồng Hạnh

Tóm tắt: Già hóa dân số đang là vấn đề cần được quan tâm ở Việt Nam hiện nay. Tốc độ già hóa dân số nhanh và sẽ đạt ngưỡng dân số già trước năm 2030. Trên cơ sở định hướng chính sách dân số của Đảng và Nhà nước, cần có những giải pháp đồng bộ, trong đó hoạch định chính sách dân số thích ứng với già hoá dân cư cần tập trung vào các nội dung như bảo đảm tài chính, sức khoẻ và khuyết tật, chăm sóc xã hội, bố trí cuộc sống phù hợp, chú ý tới người cao tuổi cô đơn, bị lạm dụng, bạo hành cũng như trong tình huống khẩn cấp.

Nguồn trích: Tạp chí Tổ chức Nhà nước / 2020, Số 5, Tr.58-61

11. Lý thuyết quá độ dân số thứ hai và gợi mở cho nghiên cứu mức sinh ở Việt Nam/ Nguyễn Đức Vinh

Tóm tắt: Lý thuyết quá độ dân số (thứ nhất) đã khái quát hóa và dự báo khá chính xác quá trình chuyển đổi của các dân số trên thế giới trong thế kỷ 20 từ mức chết và mức sinh đều cao sang mức chết thấp và mức sinh gần mức thay thế dưới tác động của công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Tuy nhiên, lý thuyết quá độ dân số không giúp giải thích được xu hướng giảm sinh xuống dưới mức thay thế ở nhiều quốc gia từ khoảng năm 1980 đến nay. Bài viết giới thiệu và phân tích “Lý thuyết quá độ dân số thứ hai” được các nhà nhân khẩu học phát triển trong vài mấy thập kỷ gần đây, trong đó mức sinh dưới mức thay thế được cho là hệ quả của những biến đổi văn hóa sang các giá trị và chuẩn mực hậu hiện đại, theo hướng tự do cá nhân và tự chủ hơn trong lựa chọn mô hình hôn nhân và gia đình... Điều này có thể gợi mở hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu dân số và dự báo mức sinh ở Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Xã hội học/ 2021, Số 1, Tr.65-75

12. Trong tương lai sẽ xây dựng ra sao khi khí hậu biến đổi nhiều và dân số hành tinh tăng cao?/ Huy Côn

Tóm tắt: Trên hành tinh của chúng ta có hai điều đang xảy ra: khí hậu biến đổi nhiều và dân số tăng cao. Người ta tính rằng, nếu theo cái đà hiện nay - nghĩa là cứ 12 năm lại tăng thêm 1 tỷ người thì thách thức đối với nhà quy hoạch, kiến trúc và xây dựng lại càng to lớn. Khi đó, ngay cả những kiến trúc mà bây giờ cho là thích hợp như kiến trúc sinh thái, kiến trúc màu xanh, kiến trúc sử dụng năng lượng tái tạo,... cũng không có đất mà xây dựng nữa. Đã có con số cảnh báo rằng, đến năm 4300, trọng lượng cả loài người sống trên hành tinh này sẽ vượt quá trọng lượng Trái Đất. Khi đó, việc cư trú trở thành vấn đề nan giải.

Nguồn trích: Tạp chí Người xây dựng/ 2021, Số 5+6, Tr.30

13. Biến động dân số Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009-2019 - thực trạng và giải pháp kiểm soát dân số/ Nguyễn Thị Hoài Hương

Tóm tắt: Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh là vùng đất được nhiều ưu đãi về tự nhiên, cũng như có nhiều thuận lợi về chính trị - xã hội, ngay từ khi được thành lập đã sớm trở thành trung tâm kinh tế - thương mại - dịch vụ của vùng và của cả khu vực. Được mệnh danh là Hòn ngọc Viễn Đông, Thành phố có sức thu hút khá lớn nhiều thành phần cư dân từ các địa phương khác đến cư trú, làm ăn sinh sống. Vì vậy, dân số của Thành phố không ngừng tăng nhanh. Quá trình này bao gồm sự gia tăng dân số tự nhiên và gia tăng cơ học, trong đó gia tăng cơ học (do dân di cư từ các địa phương khác đến Thành phố) thường có tỷ lệ cao hơn mặc dù số lượng có biến động tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử gắn liền với định hướng quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố. Bài viết đã tổng kết, phân tích thực trạng biến động dân số Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009-2019 và đưa ra các đề xuất về giải pháp nhằm phục vụ cho công tác quy hoạch đô thị, kiểm soát dân số, quản lý xã hội tại Thành phố.

Nguồn trích: Tạp chí Phát triển Nhân lực/ 2021, Số 02, Tr.23 - 38