1. Đánh giá quy định về tiền lương của lao động nữ theo pháp luật lao động Việt Nam = Discussing vietnam’s regulations on wages of female workers/ Lại Thị Tố Quyên

Tóm tắt: Thu nhập chính là động lực của người lao động, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. Đảm bảo được bình đẳng giới thu nhập không những giải phóng sức lao động, tận dụng nguồn lực, làm lành mạnh thị trường lao động góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bất bình đẳng trong thu nhập giữa hai giới ngăn cản sự phát triển bình đẳng, từ đó gây ra sự không hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực trong xã hội. Bài viết bàn về thực trạng quy định riêng của pháp luật lao động về tiền lương của lao động nữ ở Việt Nam và đánh giá thực trạng đó.

Nguồn trích: Tạp chí Công thương/ 2019, Số 14, Tr.14-20

2. Góp ý kiến hoàn thiện chế định hợp đồng trong dự thảo sửa đổi Bộ luật Lao động năm 2012 dưới góc nhìn khoa học pháp lý = Some recommendations to improve the effectiveness of regulations on labour contract under the draft of revised 2012 labor code of Vietnam/ Hồ Xuân Thắng, Lê Thị Minh Thư

Tóm tắt: Nghiên cứu về hợp đồng lao động của dự thảo, các tác giả đồng tình với các nhà soạn thảo vẫn giữ nguyên cấu trúc 5 mục cơ bản, thay đổi một số nội dung từ giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng, hợp đồng vô hiệu và cho thuê lại lao động, cũng như các hoạt động khác có liên quan đến hợp đồng với một bên là người sử dụng lao động. Tuy nhiên, trong nội dung sửa đổi lần này vẫn có những bất cập, hạn chế chưa phù hợp với thực tiễn. Bài viết tập trung bàn về một số vấn đề liên quan đến hợp đồng lao động, hợp đồng học nghề, tập nghề trong dự thảo của Bộ luật Lao động sửa đổi theo lăng kính của khoa học pháp lý, góp phần hoàn thiện điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng.

Nguồn trích: Tạp chí Công thương/ 2019, Số 17, Tr.70-75

3. Đánh giá thực trạng quy định về điều kiện làm việc trong lĩnh vực thời giờ làm việc, nghỉ ngơi của lao động nữ theo pháp luật lao động Việt Nam = Assessment of the current status of working conditions in the field of working hours and rest of female employees according to Vietnamese labor law / Lại Thị Tố Quyên

Tóm tắt: Thực tế đã chứng minh thời giờ làm việc, nghỉ ngơi quyết định không nhỏ đến sức khỏe của người lao động (NLĐ) nói chung, lao động nữ (LĐN) nói riêng. Con người chịu rất nhiều sự tác động của giờ giấc đến thể trạng, tâm sinh lý của họ. Việc quy định về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi phù hợp theo thể trạng, tâm sinh lý NLĐ, góp phần bảo vệ sức khỏe và hạn chế tai nạn lao động với họ. Nội dung quy định về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi là một trong các quy định thuộc về điều kiện làm việc của NLĐ trong Bộ luật Lao động (BLLĐ). Bài viết này phân tích thực trạng các quy định của pháp luật lao động về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi dành cho NLĐ ở Việt Nam, thực tiễn thi hành ở các doanh nghiệp và đánh giá thực trạng đó.

Nguồn trích: Tạp chí Công thương/ 2019, Số 13, Tr.14-19  

4. Pháp luật Việt Nam về xóa bỏ lao động cưỡng bức/ Mai Đăng Lưu

Tóm tắt: Lao động cưỡng bức (LĐCB) xâm phạm quyền tự do lựa chọn việc làm của người lao động (NLĐ), trong nhiều trường hợp trực tiếp xâm phạm tới nhân phẩm, các quyền tự do thân thể của NLĐ. Khi tồn tại tình trạng cưỡng bức lao động, người sử dụng lao động (NSDLĐ) không tôn trọng và không tính tới quyền lợi chính đáng của NLĐ, do đó cưỡng bức lao động là một biểu hiện của sự bất công và không khuyến khích được tính tích cực, sáng tạo của NLĐ. Chính vì thế, duy trì tình trạng cưỡng bức lao động làm giảm năng suất lao động, không có lợi ích cho sự phát triển chung của xã hội. Bài báo khoa học tập trung vào các nội dung: khái quát pháp luật Việt Nam về lao động cưỡng bức và xóa bỏ lao động cưỡng bức qua việc phân tích cơ sở pháp lý từ Bộ luật Lao động 2012, Bộ luật Hình sự 2015, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006,... đồng thời phân tích thực trạng các hình thức lao động cưỡng bức,còn tồn tại ở Việt Nam hiện nay. Từ những nghiên cứu đó chỉ ra các hạn chế và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật.

Nguồn trích: Tạp chí Công Thương/ 2020, Số 10, Tr.41-48 

5. Việc thi hành quy định pháp luật lao động về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ tại các doanh nghiệp ở Hà Nội/ Lại Thị Tố Quyên

Tóm tắt: Hoạt động sản xuất kinh doanh bao giờ cũng có sự liên quan mật thiết với an toàn lao động, vệ sinh lao động. Lao động nữ vừa có tư cách là một lực lượng lao động tham gia vào quá trình lao động sản xuất, đồng thời thực hiện thiên chức làm mẹ, làm vợ. Xuất phát từ những đặc thù riêng về tâm, sinh lý, sức khỏe, chức năng sinh đẻ và nuôi con và đặc điểm chung của lực lượng lao động, pháp luật lao động một mặt đảm bảo quyền bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới; mặt khác, có các quy định riêng nhằm bảo vệ lao động nữ trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động. Bài viết bàn về việc thực thi các quy định pháp luật lao động về an toàn, vệ sinh lao động cho lao động nữ tại các doanh nghiệp ở Hà Nội, đánh giá việc thực thi và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao việc thực thi đó.

Nguồn trích: Tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội/ 2019, Số 08, Tr.23 - 32

6. Quy định của Bộ luật Lao động về bồi thường chi phí đào tạo - Những vấn đề doanh nghiệp cần lưu ý/ Nguyễn Thị Ánh Tuyết

Tóm tắt: Để tồn tại và phát triển bền vững trong xu thế hội nhập quốc tế và cạnh tranh gay gắt hiện nay, mỗi doanh nghiệp cần thường xuyên nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực. Thực hiện mục tiêu này, các doanh nghiệp luôn chú trọng, quan tâm đến công tác đào tạo, nâng cao năng lực cho nhân viên. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là khi doanh nghiệp bỏ ra một khoản tiền lớn đầu tư cho công tác đào tạo nguồn nhân lực, những người lao động sau khi được đào tạo lại không muốn tiếp tục làm việc cho doanh nghiệp. Như vậy, việc bồi thường chi phí đào tạo giữa người lao động và doanh nghiệp sẽ được giải quyết như thế nào? Trong bài viết này, tác giả sẽ làm rõ các quy định về bồi thường chi phí đào tạo trong Bộ luật Lao động năm 2012 và năm 2019 và đưa ra một số lưu ý cho doanh nghiệp trong việc thực hiện vấn đề này.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Dự báo/ 2020, Số 10, Tr.62-64 

7. Bộ luật Lao động năm 2019 và sự tác động đến quan hệ lao động giúp việc gia đình = Labor Code 2019 and the impact on domestic work relations/ Lữ Bỉnh Huy

Tóm tắt: Trong các quy định pháp luật về lao động giúp việc gia đình, hợp đồng lao động luôn là trung tâm, bởi nó quy định những vấn đề chủ yếu đối với mối quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động. Bộ luật Lao động năm 2019 có nhiều nội dung mới tác động đến quan hệ lao động giúp việc gia đình. Bài viết này chỉ ra các quy định mới của Bộ luật Lao động năm 2019 về hợp đồng lao động và đánh giá sự tác động của nó đến quan hệ lao động giúp việc gia đình.

Nguồn trích: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật/ 2020, Số 10, Tr.31-35

8. Thỏa thuận bảo mật thông tin theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 / Nguyễn Văn Tố Hữu

Tóm tắt: Thỏa thuận bảo mật thông tin là một nội dung quan trọng và cũng là một thỏa thuận đặc biệt trong quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Tuy nhiên, quy định pháp luật lao động Việt Nam hiện hành vẫn chưa có hướng dẫn chi tiết nhiều về nội dung này. Bài viết sẽ trình bày khái quát chung về thỏa thuận bảo mật thông tin, phân tích quy định pháp luật lao động Việt Nam hiện hành, chỉ ra những điểm bất cập, và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận bảo mật thông tin.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học - Đại học Đà Lạt/ 2020, Số 1, Tr.129-141

9. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về lao động - công đoàn phù hợp với quy định của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới = Improving Vietnamese law on labor - trade union in accordance with the provisions of the new generation free trade agreements/ Lê Văn Trung, Vũ Minh Tiến

Tóm tắt: Việc đưa các quy định về lao động (ở Việt Nam được hiểu đầy đủ hơn là các quy định về lao động - công đoàn) vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) trong những năm gần đây tạo thành FTA thế hệ mới. Từ đó, sửa đổi và hoàn thiện pháp luật tương thích với các FTA thế hệ mới vừa là nhu cầu nội tại, vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam, trong đó có các quy định về lao động - công đoàn. Bài viết tập trung các vấn đề: (1) Các điều khoản về lao động - công đoàn trong các FTA thế hệ mới; (2) Tiêu chuẩn cốt lõi của các quy định về lao động trong các FTA thế hệ mới; (3) Định hướng hoàn thiện pháp luật về lao động - công đoàn của Việt Nam thời gian tới bảo đảm phù hợp với quy định của các FTA thế hệ mới.

Nguồn trích: Tạp chí Pháp luật về Quyền con người/ 2020, Số 3, Tr.87-94

10. Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp theo Bộ luật Lao động năm 2019 = Representative Organization of Employees at Enterprises under the Labor Code of 2019/ Nguyễn Thị Hồng Nhung, Lê Thị Ngọc Yến

Tóm tắt: Bộ luật Lao động năm 2019 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021, cho phép người lao động thành lập tổ chức đại diện của người lao động tại doanh nghiệp, ngoài công đoàn, trên cơ sở phù hợp với các quy định quốc tế về lao động và tuân thủ các hiệp định thương mại tự do mới mà Việt Nam đã tham gia. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức này còn chưa cụ thể. Đây là một vấn đề rất mới, chưa từng có tiền lệ trong pháp luật lao động Việt Nam, Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về việc thành lập của tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp, cũng như về quyền thương lượng tập thể của tổ chức này, các tác giả đưa ra một số kiến nghị.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp/ 2020, Số 17, Tr.44 - 49

11. Bộ luật lao động năm 2019 với yêu cầu về bình đẳng giới trong điều kiện hiện nay/ Đặng Thu Hà

Tóm tắt: Trong bài báo này, tác giả nghiên cứu về một số quy định mới của Bộ luật Lao động năm 2019 nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong quan hệ lao động, góp phần đảm bảo quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia vào quan hệ lao động, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Kiểm sát/ 2020, Số 43, Tr.116-120

12. Điều kiện lao động và sử dụng lao động giúp việc gia đình theo Bộ luật lao động năm 2019 = Working conditions and using domestic workers under the Labor Code in 2019/ Lữ Bỉnh Huy

Tóm tắt: Lao động giúp việc gia đình có những đặc thù riêng so với các đối tượng lao động khác. Vì vậy, bên cạnh những quy định chung pháp luật lao động thường có những quy định riêng điều chỉnh quan hệ lao động giúp việc gia đình. Bài viết trình bày, phân tích, bình luận một số quy định mới của Bộ luật lao động năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2021) đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm đảm bảo hiệu quả thực hiện Bộ luật lao động năm 2019 vê điêu kiện lao động và sử dụng lao động với lao động giúp việc gia đình cụ thể là các nội dung: Tiên lượng; an toàn, vệ sinh lao động; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; kỷ luật lao động, bồi thường thiệt hại vật chất.

Nguồn trích: Tạp chí Nghề luật/ 2021, Số 3, Tr.19-23

13. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019 và một số vấn đề đặt ra/ Nguyễn Thị Phương Thúy

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích một số điểm vướng mắc, chưa phù hợp với thực tế trong các quy định pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động và người sử dụng lao động; về trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc và về giải quyết hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Nguồn trích: Tạp chí Công thương/ 2021, Số 9, Tr.26-31 

14. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động theo bộ luật lao động năm 2019/ Nguyên Thanh Việt

Tóm tắt: Một trong những nội dung sửa đổi, bổ sung của Bộ luật Lao động năm 2019 có ảnh hưởng đến quan hệ lao động là quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động. Bài viết này trình bày về diêm mới liên quan đến quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động và bình luận về sự tác động đến quan hệ lao động ở Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật/ 2021, Số 2, Tr.42-45

15. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019 = The unilateral termination of labour contract under the 2019 Labour Code/ Nguyễn Hữu Chí

Tóm tắt: Bài viết phân tích, bình luận các quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019. Nội dung tập trung vào các vấn đề liên quan đến người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như: Căn cứ pháp lý người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; trình tự, thủ tục chấm dứt và hậu quả pháp lý khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Qua đó, tác giả chỉ ra những điểm mới về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động trong Bộ luật Lao động năm 2019 cũng như cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định này.

Nguồn trích: Tạp chí Luật học/ 2021, Số 5, Tr.3-10 

16. Một số vấn đề về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động theo quy định của Bộ luật Lao động 2019/ Trịnh Thị Hằng

Tóm tắt: Điều 35 Hiến pháp Việt Nam 2013 quy định "Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc." Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân và được cụ thể hoá bằng nhiều quy định khác nhau, để điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động. Trong số đó có quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động. Với phạm vi bài viết này, tác giả chỉ ra một số vấn đề liên quan tới quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động được quy định trong Bộ luật Lao động 2019, cụ thể là các quy định tại Mục 3 Chương III. Để làm rõ và sâu sắc hơn vấn đề, tác giả sử dụng phương pháp so sánh các quy định của Bộ luật Lao động 2019 với các quy định của Bộ luật Lao động 2012, đánh giá và phân tích các vấn đề về căn cứ, thủ tục thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động; quyền và nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật; quyền và nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Trong đó, các vấn đề về căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động, thời gian báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp thất nghiệp được phân tích kĩ để làm nổi bật những điểm tích cực cũng như những lỗ hổng còn tồn tại, ảnh hưởng tới người lao động và người sử dụng lao động. Cuối cùng, tác giả đưa ra một số đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn quy định pháp luật, tạo sự cân bằng và ổn định trong quan hệ lao động cũng như sự phát triển bền vững đối với kinh tế, xã hội.

Nguồn trích: Phát triển Khoa học & Công nghệ: Khoa học - Kinh tế - Luật và Khoa học Quản lý (ĐHQG TP. Hồ Chí Minh)/ 2021, Số 3, Tr.1754-1763

17. Bàn về khái niệm công việc không tiêu chuẩn theo quy định Bộ luật Lao động 2019/ Nguyễn Hoàng Ba

Tóm tắt: Hiện nay từ điển luật học cũng như Bộ luật Lao động (BLLĐ) 2019 chưa đưa ra khái niệm công việc không tiêu chuẩn (CVKTC) và quy phạm pháp luật điều chỉnh cụ thể CVKTC. Bài viết nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích sự tồn tại của CVKTC ở những góc độ khác nhau và trên thực tế để đưa ra khái niệm CVKTC theo quy định của BLLĐ.

Nguồn trích: Tạp chí Công thương/ 2021, Số 8, Tr.48-51

18. Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo Bộ luật Lao động năm 2019 / Nguyễn Năng Quang

Tóm tắt: Bài viết này trình bày, phân tích, bình luận các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Nguồn trích: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật/ 2021, Số 3, Tr.33-36

19. Những điểm mới về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019/ Trần Thị Huyền Trang

Tóm tắt: Sau gần 10 năm thi hành, Bộ luật Lao động năm 2012 đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế. Đặc biệt, trước bối cảnh Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu u (EVFTA), việc đáp ứng các tiêu chuẩn và cam kết quốc tế về lao động càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Ngày 20/11/2019, Quốc hội Việt Nam đã thông qua BLLĐ năm 2019 thay thế BLLĐ năm 2012 với nhiều quy định được sửa đổi, bổ sung. Một trong những điểm sửa đổi nổi bật đó là quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ). Bài viết tập trung phân tích những điểm mới về quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của người sử dụng lao động (NSDLĐ) được quy định trong BLLĐ năm 2019. Từ đó, làm rõ tính cấp thiết và phù hợp của các quy định nêu trên so với các tiêu chuẩn và cam kết quốc tế về lao động.

Nguồn trích: Tạp chí Công thương/ 2021, Số 5, Tr.20-26

20. Dấu hiệu của lao động cưỡng bức - Góc nhìn trong các quy định của Luật Lao động năm 2019 = Analyzing the signs of forced labor and assesses the suitability of regulations in the 2019 labor code/ Trần Thị Mai Loan, Nguyễn Phúc Thiện, Nguyễn Kiên Cường

Tóm tắt: Bài viết phân tích các dấu hiệu của lao động cưỡng bức: lừa gạt; hạn chế đi lại; bị cô lập; bạo lực thân thể và tình dục; dọa nạt, đe dọa; giữ giấy tờ tùy thân; giữ tiền lương; lệ thuộc vì nợ; điều kiện sống và làm việc vì lợi dụng; làm thêm giờ quá quy định. Đánh giá tính phù hợp của các quy định trong Bộ luật Lao động năm 2019 đối với vấn đề lao động cưỡng bức.

Nguồn trích: Tạp chí Công thương/ 2021, Số 6, Tr. 63-67