1. Biểu tượng cổ mẫu “đất” trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 qua một số tiểu thuyết tiêu biểu/ Phan Thúy Hằng

Tóm tắt: Đối với văn học, có nhiều con đường khác nhau để giải mã tác phẩm, trong đó làm rõ các tầng ý nghĩa của các biểu tượng trong tác phẩm là một hướng đi thú vị. Khảo sát tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2000, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều biểu tượng, trong đó biểu tượng đất chứa đựng rất nhiều hàm nghĩa khác nhau về con người và cuộc sống. Trong bài viết này, biểu tượng đất vừa mang ý nghĩa là vẻ đẹp của sự phồn sinh, sự chở che và giải thoát đồng thời nó còn là biểu tượng của sự tàn phá và hủy diệt. Với nhiều biến thể khác nhau, đất vừa lưu giữ những cơ tầng văn hoá của dân tộc, vừa có khả năng trở thành những biểu tượng và những cổ mẫu văn chương mới, chứa đựng những hàm nghĩa mới của văn hóa đương đại.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ (Đại học Đà Nẵng)/ 2021, Số 2, Tr.43-45

2. Tư duy liên tưởng trong câu đố Nam Bộ/ Phạm Thu Hằng, Nguyễn Thị Mỹ Nhung

Tóm tắt: Tư duy con người thường được hình thành trên cơ sở hai dạng liên tưởng: So sánh tương đồng, đồng dạng và so sánh luận lý tiếp cận, logic. Đồng thời, trong giao tiếp, hai hình thức liên tưởng này được phân lập dựa trên tư duy chính xác và tư duy hình tượng. Tuy nhiên, văn bản nghệ thuật đề cao lối diễn đạt hình ảnh, xem trọng sự chính xác khoa học. Với thể loại “câu đố”, một loại hình nghệ thuật dân gian phổ biến, người ra câu đố và người giải câu đố cũng đều dựa trên nguyên lý vận hành tư duy nhận thức mà thử tài cao thấp với nhau. Bài viết nhằm phân tích các cơ sở liên tưởng tạo nên hình thức câu đố. Ngoài hai cơ sở liên tưởng dựa trên nguyên lý tư duy là tư duy chính xác và tư duy hình tượng của con người, còn có thêm cơ sở liên tưởng ngôn ngữ mà cơ sở liên tưởng này lại thuộc phạm trù ngôn ngữ gắn với hình thức sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng và đó là hình thức phương ngữ Nam Bộ.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Khoa học và Phát triển Kinh tế - Trường Đại học Tây Đô/ 2021, Số 12, Tr.217-226

3. Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Lê Thị Mây/ Phạm Thị Thu Hằng

Tóm tắt: Lê Thị Mây là một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam. Thơ bà tạo được thi pháp riêng với giọng điệu trữ tình sâu lắng. Ở đó, đời sống bên trong của nhà thơ và hiện thực khách quan được thể hiện trong từng hoàn cảnh cụ thể thông qua hình tượng cái tôi trữ tình đa phân, phức cảm. Bài viết phân tích hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Lê Thị Mây qua ba dạng thức chính: Cái tôi trữ tình yêu thương, mơ mộng; Cái tôi trữ tình ly tan, ngang trái; Cái tôi trữ tình chiêm nghiệm, triết lý.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế/ 2021, Số 3, Tr.23-38

4. Phạm Vĩnh Cư với văn học Việt Nam/ Ngô Văn Giá

Tóm tắt: Đứng vững trên lập trường học thuật được xác định bởi hai trụ cột: triết-mỹ học và văn hóa học trong cái nhìn so sánh với văn học thế giới, đặc biệt là Nga và phương Tây. Phạm Vĩnh Cư đà nghiên cứu một số trường hợp văn học Việt Nam khá thấu đáo và hiệu quả. Đối tượng nghiên cứu mà ông tâm đắc nhất là thể loại bi kịch và kịch Việt Nam hiện đại. Trong đó, ông tập trung nghiên cứu thể loại bi kịch nhìn từ 3 trường hợp tiêu biểu: Vũ Như Tô (Nguyễn Huy Tưởng), Trường hận - Dương Quý Phi (Vi Huyền Đắc - Thế Lữ). Yêu Ly (Lưu Quang Thuận); và một số bi kịch biến thể khác của Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Đình Thi, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Huy Thiệp. Ông khẳng định có một dòng bi kịch Việt Nam mà đỉnh cao là Vũ Như Tô, một tác phẩm tầm cỡ thế giới.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Văn học/ 2021, Số 6, Tr.106-112

5. So sánh đối chiếu sự phân bổ tín hiệu thẩm mĩ trong thơ Hoàng Trung Thông và Xuân Hoàng/ Phạm Ngọc Trường Linh

Tóm tắt: Hoàng Trung Thông và Xuân Hoàng là hai nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam cùng trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Tuy nhiên, các nghiên cứu về hai tác giả này hiện còn rất hạn chế, chủ yếu dừng lại ở nội dung chủ đề, góc nhìn và phong cách thơ mà ít khai thác một cách đầy đủ và hệ thống các đặc điểm về ngôn từ. Bài viết sau đây đề xuất cách tiếp cận ngôn ngữ trong phong cách thơ của hai tác giả bằng phương pháp so sánh đối chiếu trên bình diện tín hiệu thẩm mĩ thời gian, sự vật-đối tượng, hành động-trạng thái trong hệ thống khối liệu gồm 83 bài thơ tiêu biểu của Hoàng Trung Thông (13.600 từ) và 113 bài thơ tiêu biểu của Xuân Hoàng (14.952 từ) nhằm làm rõ một vài nét tương đồng và khác biệt căn bản trong chất liệu làm nên các sáng tác của hai nhà thơ. Bài viết đóng vai trò như một tài liệu tham khảo, góp phần làm rõ hơn về nội dung và phương pháp tiếp cận văn học dưới góc độ ngôn ngữ học.

Nguồn trích: Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống/ 2021, Số 5a, Tr.110-117

6. Các thiết chế và vai trò của chúng trong tiến trình văn học/ Trần Văn Toàn

Tóm tắt: Nghiên cứu văn học sử, một trong những nhiệm vụ hàng đầu của nó là nhận diện và cắt nghĩa về tiến trình văn học. Trong cách nhìn truyền thống, tiến trình văn học chủ yếu được lý giải từ bối cảnh xã hội, từ sự tương tác giữa các trào lưu, khuynh hướng, từ sự biến đổi của hệ thống thể loại và quan trọng hơn cả: từ sự độc đáo và tài năng của chủ thể sáng tác. Các thiết chế trong khung lý thuyết này thường bị chìm vào trong bối cảnh xã hội với những nhận xét ngắn gọn về tình hình in ấn, truyền bá... Một cách nhận diện như thế về các thiết chế chưa thật sự phản ánh đúng vai trò của chúng trong tiến trình văn học. Bài viết của chúng tôi sẽ cố gắng thảo luận, làm sáng tỏ vai trò của các thiết chế trong sự vận động và biến đối của lịch sử văn học Việt Nam, qua đó nhận thức rõ hơn một vấn đề lý thuyết: văn học như một diễn ngôn.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Văn học/ 2021, Số 5, Tr.87-96

7. Tương tác thể loại trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại/ Đỗ Thị Cẩm Vân

Tóm tắt: Trong quá trình vận động và phát triển, các thể loại văn học không tồn tại một cách độc lập mà có sự tương tác với nhau. Tiểu thuyết có khả năng thực hiện sự tương tác thể loại bởi “tiểu thuyết cho phép đưa vào, lắp ghép vào trong nó nhiều thể loại khác nhau, kể cả những thể loại nghệ thuật (những truyện ngắn, những bài thơ trữ tình, những trường ca, những màn kịch nói...) lẫn những thể loại phim nghệ thuật (các thể văn đời sống hàng ngày, văn hùng biện, khoa học, tôn giáo...)” [1]. Ở tiểu thuyết theo lối viết truyền thống với đề tài lịch sử Việt Nam đương đại (qua các trường hợp tiêu biểu như Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Mộng Giác...), sự tương tác giữa thể với thể được xem là hình thức phổ biến nhất. Các hình thức tiêu biểu của tương tác thể loại trong tiểu thuyết với đề tài lịch sử là tương tác giữa truyện ngắn với tiểu thuyết, giữa thơ và tiểu thuyết... Tương tác thể loại thể hiện ý thức sáng tạo và sự thể nghiệm của người sáng tác trước yêu cầu đổi mới của thực tiễn đời sống văn học.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam/ 2021, Số 04B, Tr.56 - 59 

8. Triết lý về cuộc sống trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư = Life philosophy in Nguyen Ngoc Tu's short stories/ Nguyễn Minh Ca

Tóm tắt: Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, được người đọc biết đến với phong cách ngôn ngữ bình dị, hình tượng nhân vật, không gian sinh hoạt gần gũi với đời sống ở Nam Bộ. Bằng chiêm nghiệm của bản thân, nhà văn cho rằng: hình ảnh quê hương không thể tách rời trong cuộc sống và trong đời sống xã hội của chúng ta mỗi người đều có một số phận riêng của mình vì mỗi người được sinh ra trong những không gian và thời gian khác nhau. Nhà văn cho rằng: cuộc sống có quy luật riêng của nó vì vậy chúng ta nên biết chấp nhận và sông phải vì bản thân, sống thẳng, sống phải có lập trường. Với phương pháp khảo sát - thống kê, phân tích - tổng hợp và các thao tác chứng minh, so sánh,... Bài viết trình bày những triết lý về cuộc sống của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư.

Nguồn trích: Tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội/ 2021, Số 01, Tr.113 - 120

9. Phong tục lễ tết cổ truyền của người Việt trong văn học trung đại Việt Nam = traditional tet customs in Vietnamese medieval literature/ Trần Thị Kim Thu

Tóm tắt: Văn học trung đại Việt Nam và văn hóa dân gian và có mối quan hệ chặt chẽ. Các yếu tố của văn hóa dân gian đã trở thành một phần chất liệu trong sáng tác văn học trung đại. Với hướng tiếp cận văn học từ văn hóa, bài viết tổng hợp, phân tích, bàn luận về một số phong tục lễ Tết cổ truyền của người Việt như thưởng hoa, sắm Tết, dựng cây nêu, đốt pháo, đón giao thừa, mừng xuân, chúc Tết, chơi xuân qua các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam tiêu biểu. Bên cạnh bức tranh đầy màu sắc về phong tục lễ Tết, các tác phẩm còn ẩn chứa những tâm sự thầm kín của các nhà văn, nhà thơ về sự đổi thay, nhiễu nhương của thời cuộc cùng với mong ước có một đời sống tốt đẹp hơn. Qua đó, bài viết góp phần nâng cao năng lực cảm thụ văn chương đồng thời phục hồi nét đẹp văn hóa Tết cổ truyền của dân tộc.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp/ 2021, Số 1, Tr.97-109

10. Tìm hiểu hiện tượng hai văn tự ở một giai đoạn văn chương Việt = Understanding the use of two scripts in Early pre-modem Vietnamese literature/ Trần Hải Yến

Tóm tắt: Việc sử dụng chữ Hán và chữ Nôm trong văn học Việt Nam thời trung đại thường được coi là một đặc thù lịch sử và được nghiên cứu để đánh giá mức độ trưởng thành của tính dân tộc. Đây là một cách nhìn và tiếp cận chắc chắn đúng. Tuy nhiên, cách định danh, cách hình dung diễn biến đó trong lịch sử, hoặc ở từng giai đoạn, hoặc ở từng trường hợp cụ thể thì lại có những điểm có thể xem xét lại, trước hết là khái niệm “song ngữ” quen dùng. Với mục đích tìm hiểu thêm hiện tượng này, bài viết dùng hai điểm quy chiếu: 1/ khảo sát tư liệu văn chương thuộc một giai đoạn của diễn tiến này là thế kỷ XV-XVII khi Nho giáo được lựa chọn để trở thành độc tôn, một biến động mà về hình thức sẽ tạo ra tác động tích cực đối với chữ Hán và văn chương chữ Hán, nhưng cũng lại là giai đoạn có những bước phát triển đặc biệt về một số hình thức văn chương Nôm; 2/ đặt hiện tượng này vào khung thảo luận hiện tại của học giới quốc tế về cùng vấn đề.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Văn học/ 2021, Số 2, Tr.64-75

11. Đặc điểm của văn tế Hán Nôm Bình Bịnh = The characteristics of Sino-Nom funeral oration in Binh Dinh province/ Võ Minh Hải, Nguyễn Thị Bé

Tóm tắt: Từ thực tế điền dã, sưu tầm văn tế Hán Nôm trên địa bàn tỉnh Bình Định, tác giả đã phác thảo một cách khái quát về diện mạo của một thể loại đặc biệt trong văn học Bình Định. Bài viết tiếp tục làm rõ những đặc điểm về nội dung và phương thức nghệ thuật của thể loại văn tế Hán Nôm trong văn học Bình Định. Với tư cách là một thể loại gắn liền với chức năng nghi lễ mang âm điệu xót xa, văn tế Hán Nôm Bình Định đã mang lại những giá trị văn hoá mới góp phần định hình diện mạo văn học Hán Nôm Bình Định.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên/ 2020, Số 25, Tr.36-45

12. Hình tượng nhân vật hoàng đế trong thơ vịnh sử Việt Nam thế kỉ X - XV = Emperor character in the Vietnamese historical poetry from the tenth to the fifteenth century/ Trịnh Huỳnh An

Tóm tắt: Thời trung đại, thể tài thơ vịnh sử được xem là loại hình sáng tác tiêu biểu cho văn học Nho gia tại các nước Đông Á: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam... Thể tài thơ vịnh sử bắt đầu xuất hiện từ thế kỉ XIII và từng bước giữ vị trí khá quan trọng trong nền văn học trung đại Việt Nam. Với mục đích giáo huấn, thể tài thơ vịnh sử được các hoàng đế lựa chọn sáng tác để răn dạy chính mình cũng như các triều thần. Về sau, cùng sự thay đổi của bối cảnh lịch sử, xã hội, thể tài thơ vịnh sử đã có nhiều bước phát triển mới phù hợp với thời đại.

Nguồn trích: Tạp chí khoa học - Trường Đại học Vinh/ 2020, Số 2B, Tr.5-12

13. Văn học Hán Nôm miền Nam Trung Bộ trong tiến trình văn học cổ điển Việt Nam/ Võ Minh Hải

Tóm tắt: Bài viết phác hoạ những vấn đề cơ bản của văn học Hán Nôm Nam Trung Bộ trong tiến trình văn học cổ điển Việt Nam. Từ góc nhìn lịch đại, bài viết nêu bật những đóng góp cơ bản của một số tác gia và thể loại tiêu biểu của văn học chữ Hán, chữ Nôm khu vực đặc biệt này. Đề xuất một số hướng nghiên cứu, tiếp cận nhằm xác định rõ vai trò, vị trí của bộ phận văn học Hán Nôm Nam Trung Bộ trong tương quan với văn học dân tộc.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Xã hội Miền Trung/ 2020, Số 6, Tr.26-35

14. Bài thơ Cáo tật thị chúng của Thiền sư Mãn Giác từ góc nhìn kí hiệu học cấu trúc/ Nguyễn Minh Nhật Nam

Tóm tắt: Bài viết phân tích bài thơ Cáo tật thị chúng của thiền sư Mãn Giác bằng phương pháp nghiên cứu của kí hiệu học cấu trúc. Bài thơ là một tổ chức kí hiệu phức tạp, là sự giao cắt và thống nhất giữa ngôn ngữ thi ca và ngôn ngữ thiền học, truyền tải những triết lý của Phật giáo Thiền tông: lẽ vô thường của thế giới hiện tượng và sự thường hằng của “chân như”. Bên cạnh đó, bài viết còn đề xuất một cách tiếp cận khác với cách tiếp cận của một số nhà nghiên cứu văn học Việt Nam khi họ phân tích ý nghĩa bài thơ này, đó là tiếp cận tập trung vào phương diện nội tại của văn bản thơ. Từ quan điểm của cách tiếp cận ấy, chúng tôi phân tích và chỉ ra nguyên tắc cấu trúc bề sâu của bài thơ Cáo tật thị chúng là sự chuyển dịch từ tính chất “động” sang “tĩnh” của thế giới nghệ thuật. Chính cơ chế này của bài thơ đã phiên dịch và mã hóa những “thiền ý” trở thành ngôn ngữ thi ca.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học - Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh/ 2020, Số 10, Tr.1766-1777

15. Thiên tính nữ và góc nhìn giới tính trong văn chương Việt Nam đương đại/ Nguyễn Thị Năm Hoàng

Tóm tắt: Thiên tính nữ trong văn chương là đặc điểm, là thiên hướng tư duy nghệ thuật chi phối cách thức tổ chức tác phẩm mang bản sắc phái nữ hoặc sự đề cao những phẩm chất và giá trị của phụ nữ. Khuynh hướng này thể hiện một cách sâu rộng và phổ biến, tạo thành nét đặc sắc cho văn học Việt Nam đương đại. Bài viết vận dụng kết hợp phê bình Nữ quyền và các phương pháp nghiên cứu Văn hoá học, Thi pháp học, Tự sự học để mô tả và phân tích nguồn gốc của Thiên tính nữ, sự thể hiện của Thiên tính nữ và góc nhìn giới tính trong văn chương Việt Nam đương đại qua những hiện tượng tiêu biểu, trên một số phương diện cơ bản.Từ khóa: góc nhìn giới tính, thiên tính nữ, văn chương Việt Nam đương đại. Chỉ số phân loại: 5.10

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2019, Số 4B

16. Những đổi mới của Nguyễn Minh Châu trong dòng chảy văn học đương đại / Đỗ Hải Ninh

Tóm tắt: Nguyễn Minh Châu là trường hợp đặc biệt của văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX, với vai trò một người mở đường trong giai đoạn giao thời. Là một trong những nhà văn thành công của thế hệ chống Mỹ nhưng ông đã sớm nhận thấy cần thiết phải thay đổi quan niệm, nhận thức và lối viết, điều đó được thể hiện một cách mạnh mẽ trong các tác phẩm và các tiểu luận. Bài viết nhìn lại những đổi mới của Nguyễn Minh Châu và ý nghĩa của những đổi mới ấy trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại. Không chỉ góp phần mở đường cho tiến trình đổi mới, những chuyển động trong hành trình sáng tác của Nguyễn Minh Châu đã phản chiếu chuyển động của nền văn học trên hành trình đổi mới.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam- B/ 2020, Số 4B

17. Ý thức về chức năng “ngôn tình” trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII – XIX / Đàm Anh Thư

Tóm tắt: Bài viết hướng đến việc tìm hiểu ý thức về chức năng “ngôn tình” trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII – XIX. Trong mọi hoạt động của văn học từ sáng tác đến phê bình, ý thức đề cao chức năng “ngôn tình” đã vạch ra con đường vận động từ Lê Quý Đôn đến Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Đình Chiểu. Khái niệm “tình” được định nghĩa lại. Văn học bước qua lằn ranh cấm kỵ đối với những vấn đề liên quan đến con người cá nhân, tiếp cận thế giới tình cảm thuộc về thế tục.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học - Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh/ 2018, Số 2