1. Xây dựng và sử dụng cơ sở dữ liệu về an toàn giao thông/ Phạm Cao Bình

Tóm tắt: Những đột phá công nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) tiếp tục làm thay đổi những nền tảng phát triển kinh tế và xã hội như sở hữu quy mô sản xuất, các khâu trung gian, tầm quan trọng tương đối của các loại nguồn lực. Bên cạnh đó, đại dịch Covid-19 diễn ra đã thúc đẩy sự phát triển công nghệ diễn ra nhanh hơn nữa. Các nền tảng giúp làm việc từ xa, họp trực tuyến giúp ích rất nhiều trong việc giảm bớt các gián đoạn trong công việc.

Nguồn trích: Tạp chí Đặc san Phát triển Kinh tế - Xã hội/ 2021, Số 13+14, Tr.36-38

2.Xây dựng cơ sở dữ liệu dạng WebMap về khoáng sản tỉnh Quảng Nam/ Nguyễn Văn Canh, Nguyễn Thị Thúy

Tóm tắt: Bài báo thể hiện một số kết quả đạt được trong nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) về khoáng sản tỉnh Quảng Nam: Xây dựng bộ dữ liệu chuẩn về khoáng sản (dữ liệu thuộc tính và dữ liệu không gian) được tin học hóa theo hệ thống thông tin địa lý (dạng WebMap) trên cơ sở thu thập, phân tích, biên tập các tài liệu, số liệu về tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Bộ dữ liệu với tính chất là một hệ đa mục tiêu, đa tỷ lệ, tích hợp được trên nền bản đồ cơ sở chung của toàn tỉnh và được xây dựng theo khung cấu trúc CSDL chuẩn định dạng theo quy định hiện hành. CSDL được quản trị bởi phần mềm chuyên dụng tiên tiến, là một hệ thống mở với trang Website kết nối internet có thể cập nhật, thay đổi, truy xuất thông tin dễ dàng, có khả năng cung cấp các công cụ nhằm khai thác thông tin về khoáng sản phục vụ quản lý, quy hoạch, cấp phép của lãnh đạo tỉnh và các cơ quan, ban, ngành thuộc tỉnh.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế/ 2021, Số 2, Tr.145-158

3. Xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư/ Cao Quang Thành

Tóm tắt: Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) là sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật lý, công nghệ số và sinh học, tạo ra những khả năng sản xuất hoàn toàn mới và có tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của thế giới. CMCN 4.0 được hình thành trên nền tảng công nghệ số và sự tích hợp các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất. Dưới tác động của CMCN 4.0, việc xây dựng cơ sở dữ liệu thống kê đối mặt với những thách thức lớn phải vượt qua và chỉ khi vượt qua những thách thức này mới nắm bắt được cơ hội, chuyển cơ hội thành hiện thực.

Nguồn trích: Tạp chí Con số và Sự kiện/ 2021, Số 7, Tr.6-7

4.Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý xây dựng cơ sở dữ liệu giá đất thị trấn Gia Bình, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh/ Trần Quốc Vinh, Phạm Thành Hưng, Nguyễn Đức Thuận, Phạm Quý Giang

Tóm tắt: Nghiên cứu bước đầu đã xây dựng cơ sở dữ liệu giá đất cho thị trấn Gia Bình, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Cơ sở dữ liệu (CSDL) giá đất thị trấn Gia Bình được xây dựng từ 29 tờ bản đồ địa chính bằng phần mềm ArcGIS bao gồm CSDL không gian thửa đất (lớp ranh giới, địa giới; giao thông; thủy hệ; địa danh; giá đất) và CSDL thuộc tính giá đất (bao gồm 19 trường thông tin về thửa đất, tuyến đường, giá đất nhà nước, giá đất cụ thể, giá đất trúng đấu giá quyền sử dụng đất, giá đất thị trường, nghĩa vụ tài chính). Kết quả của nghiên cứu được chia sẻ lên phần mềm ArcGIS Online để hỗ trợ truy cứu thông tin giá đất thông qua internet.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Đất/ 2021, Số 62, Tr.90-95

5. Xây dựng công cụ chuyển đổi cấu trúc dữ liệu thuộc tính địa chính phục vụ hoàn thiện cơ sở dữ liệu địa chính tại quận 6, thành phố Hồ Chí Minh = Building a tool to convert structure of cadastral attribute data for completing the cadastral database in district 6, Ho Chi Minh city/ Trương Đỗ Thùy Linh

Tóm tắt: Là đơn vị tiên phong xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính từ năm 2006, nên cấu trúc cơ sở dữ liệu địa chính của Quận 6-TP.HCM hiện không phù hợp với quy chuẩn hiện hành theo thông tư 75/2015/TT-BTNMT và không đồng bộ với cấu trúc dữ liệu địa chính của các địa phương khác. Điều này gây nhiều khó khăn trong vận hành cơ sở dữ liệu địa chính, đặc biệt trong đồng bộ cơ sở dữ liệu các cấp. Với nhiều phương pháp, nghiên cứu đã (1) phân tích khác biệt về cấu trúc dữ liệu địa chính cũ theo Thông tư 17/2010/TT-BTNMT với cấu trúc mới theo Thông tư 75/2015/TT-BTNMT; (2) xây dựng bộ cấu trúc dữ liệu thuộc tính địa chính mới trên Microsoft SQL Server; (3) ứng dụng C#.Net xây dựng công cụ chuyển đổi cấu trúc dữ liệu thuộc tính địa chính; (4) chuyển đổi thành công cơ sở dữ liệu thuộc tính địa chính của Phường 9 (với 12.196 bản ghi) sang cấu trúc mới một cách đầy đủ, chính xác, nhanh chóng và hoàn toàn tự động. Kết quả đạt được giúp tiết kiệm thời gian, kinh phí và nhân lực trong quá trình chuyển đổi dữ liệu nhưng vẫn đảm bảo độ chính xác và toàn vẹn cho cơ sở dữ liệu địa chính. Đây là tiền đề thuận lợi để đồng bộ hóa dữ liệu địa chính các cấp, góp phần hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia và phù hợp với chiến lược của ngành về tăng cường năng lực quản lý Tài nguyên và Môi trường trong thời gian tới.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp - Trường Đại học Nông lâm, Đại học Huế/ 2020, Số 3, Tr.2140-2150

6. Một số cơ sở dữ liệu cần có cho các thư viện công cộng và thư viện học thuật

Tóm tắt: Việc có các cơ sở dữ liệu bao hàm những chủ đề như kinh doanh, tự nhiên, thống kê và công nghệ sẽ giúp các thư viện đáp ứng được những nhu cầu kể trên. Tất cả những cơ sở dữ liệu được giới thiệu sau đây đều có những điểm chung rõ rệt, như: thiết kế thân thiện với người dùng, có tính học thuật đáng tin cậy và sự phù hợp với đa dạng người dùng nghiên cứu. Đa số các bộ sưu tập này đều có phần nội dung bằng chữ và hình ảnh. Tất cả những điều đó đều sẽ giúp ích cho những người đã quen với thư viện học thuật cũng như thư viện công cộng.

Nguồn trích: Tạp chí Thông tin và Tư liệu/ 2021, Số 1

7. Kích thước lưu trữ và thời gian truy vấn giữa hai hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL và NoSQL/ Đặng Lê Hoài

Tóm tắt: Ngày nay, lượng dữ liệu được tạo từ các hoạt động của thiết bị, mạng xã hội, yêu cầu lưu trữ người dùng,... đang ngày càng tăng, việc lưu trữ và xử lý dữ liệu lớn là một thách thức, điều này đòi hỏi phải có một hệ quản trị cơ sở dữ liệu (HQTCSDL) hiệu quả, đáp ứng được việc lưu trữ dữ liệu lớn nhưng không ảnh hưởng nhiều đến việc truy xuất dữ liệu. Vì vậy, cơ sở dữ liệu (CSDL) NoSQL ra đời để giải quyết vấn đề này, nhưng liệu nó có thay thế được cơ sở dữ liệu truyền thông không? Bài báo tập trung so sánh kích thước lưu trữ và thời gian thực thể giữa hai hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL và NoSQL, đồng thời tìm hiểu khái quát về các cơ sở dữ liệu NoSQL: Redis, Cassandra, MongoDB.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Tài chính Kế toán - Đại học Tài chính Kế toán (Bộ Tài chính)/ 2021, Số 21, Tr.78-83

8. Thực trạng và đề xuất mô hình quản lý hệ thống Cơ sở dữ liệu Nhà ở xã hội Việt Nam/ Nguyễn Văn Tuyên

Tóm tắt: Đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đã trở thành nhu cầu vô cùng rất cấp bách của xã hội, đặc biệt là các khu vực đô thị lớn tại Việt Nam trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, chênh lệch thu nhập trong khu vực đô thị ngày càng gia tăng. Hiện nay, Việt Nam chưa có mô hình quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu (CSDL NOXH). Việc vận hành quản lý dự án NOXH theo phân cấp quản lý hành chính, quản lý việc mua và cho thuê vẫn chủ yếu bằng văn bản giấy, là không phù hợp với định hướng chuyển đổi số Quốc gia và yêu cầu thực tiễn quản lý. Bằng phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu và thông tin thực trạng, bài báo đã nhận diện được những vấn đề còn tồn tại của công tác quản lý NOXH tại Việt Nam. Trên cơ sở những vấn đề tồn tại đó, bài báo đưa ra mô hình quản lý hệ thống CSDL NOXH Việt Nam, nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong công tác quản lý NOXH nói riêng, ngành xây dựng nói chung.

Nguồn trích: Tạp chí Xây dựng/ 2021, Số 3, Tr.76-80

9. Nghiên cứu thiết kế mô hình cơ sở dữ liệu quy hoạch sử dụng đất cấp huyện có đề cập đến yếu tố tham vấn cộng đồng tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu/ Trương Đỗ Thùy Linh, Võ Thị Ngọc Thủy

Tóm tắt: Xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) đất đai nói chung và CSDL quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) nói riêng là một yêu cầu tất yếu, nhất là đối với một thành phố cảng biển có mức độ biến động đất đai phức tạp như thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Theo đó, một CSDL QHSDĐ hoàn chỉnh và nhận được sự tham gia góp ý của cộng đồng sẽ góp phần kết nối nhà quy hoạch, nhà quản lý và người dân, giúp tăng tính công khai, minh bạch và tính khả thi của phương án QHSDĐ. Nghiên cứu đã thiết kế được mô hình CSDL QHSDĐ (có đề cập đến yếu tố tham vấn cộng đồng (TVCĐ)) cho TP. Vũng Tàu theo đúng quy chuẩn dữ liệu đất đai của Thông tư 75/2015/TT-BTNMT; từ đó, xây dựng thành công bộ cấu trúc CSDL QHSDĐ có độ chính xác cao, phù hợp với quy chuẩn của ngành và mô hình CSDL đã thiết kế, với 22 bảng dữ liệu không gian trên ArcGIS và 8 bảng dữ liệu thuộc tính (có đề cập đến yếu tố TVCĐ) trên Microsoft SQL Server. Cuối cùng, đề tài đã thử nghiệm xây dựng thành công CSDL QHSDĐ giai đoạn 2010 - 2020 bằng phần mềm VBDLIS cho TP. Vũng Tàu với 6 lớp dữ liệu gồm: 15.060 bản ghi thuộc lớp QHSDĐ; 163 bản ghi thuộc lớp Công trình dự án; 12.002 bản ghi thuộc lớp Điều chỉnh QHSDĐ; 570 bản ghi thuộc lớp Điều chỉnh công trình dự án và 2 lớp dữ liệu thuộc tính về TVCĐ. Kết quả đạt được cho thấy mô hình và bộ cấu trúc CSDL hoàn chỉnh, đúng quy định chính là cơ sở giúp xây dựng thành công và khai thác hiệu quả CSDL QHSDĐ, góp phần cho việc quản lý đất đai theo quy hoạch và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển (ĐH Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh)/ 2021, Số 4, Tr.53-68

10. Một số phương pháp nhập liệu vào các bảng dữ liệu có tham chiếu vòng trong cơ sở dữ liệu SQLite = Some methods used to enter data into the tables where there are circular references in the sqlite database/ Phạm Thị Minh Thương

Tóm tắt: Một trong những vấn đề chúng ta thường gặp khi nhập liệu vào cơ sở dữ liệu (CSDL) là vi phạm ràng buộc khóa ngoại. Để tránh vi phạm ràng buộc khóa ngoại thì chúng ta phải xem xét kỷ thứ tự nhập liệu của các bảng. Nhưng khi giữa các bảng có tham chiếu vòng thì thứ tự này lại không xác định được. Bài báo này sẽ trình bày một số phương pháp để nhập liệu vào CSDL khi giữa các bảng có tham chiếu vòng. Phần mềm quản trị CSDL được sử dụng trong bài báo là SQLite Studio cho CSDL SQLite.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Phạm Văn Đồng/ 2021, Số 21, Tr.29-34

11. Đề xuất trách nhiệm, quyền hạn của các đối tượng trong việc cập nhật, vận hành và khai thác cơ sở dữ liệu giá đất/ Bùi Thị Cẩm Ngọc

Tóm tắt: Để quản lý, cung cấp thông tin khai thác dữ liệu về giá đất ngày càng có hiệu quả thì việc xác định các đối tượng khai thác sử dụng dữ liệu về giá đất là bước đầu khi tiến hành áp dụng công nghệ với cơ sở dữ liệu giá đất. Qua nghiên cứu tác giả xác định các đối tượng tác động tới cơ sở dữ liệu giá đất gồm 2 nhóm đối tượng: Nhóm nhà quản lý và người dân. Việc áp dụng công nghệ thông tin để quản lý, phân cấp thẩm quyền và giới hạn chức năng sử dụng hệ thống dữ liệu phù hợp cho từng nhóm đối tượng sẽ giúp việc quản lý và sử dụng dữ liệu giá đất ngày càng hoàn thiện hơn. Dựa vào trách nhiệm của từng đối tượng để phân quyền, cấp tài khoản đã phân quyền cho đối tượng. Việc xác định rõ đối tượng cũng như trách nhiệm của các đối tượng đó là tiền đề để quản lý cơ sở dữ liệu giá đất sau khi được xây dựng đồng thời đảm bảo độ an toàn cho dữ liệu đó.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Đất/ 2021, Số 62, Tr.122-129

12. Nghiên cứu hoàn thiện cơ sở dữ liệu quản lý hộ kinh doanh/ Dũng Huệ

Tóm tắt: "Nghiên cứu hoàn thiện cơ sở dữ liệu quản lý hộ kinh doanh", đó là chỉ đạo của Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Đặng Ngọc Minh tại hội nghị trực tuyến lấy ý kiến về dự thảo thông tư hướng dẫn thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh do Tổng cục Thuế tổ chức ngày 23/3 với các cục thuế địa phương.

Nguồn trích: Tạp chí Thuế Nhà nước/ 2021, Số 13, Tr.10-11