1. Thiết kế vector CRISPR/Cas9 mang gRNA định hướng đột biến gen SlIAA9 của cà chua/ Bùi Mạnh Minh, Hà Hồng Hạnh, Lê Thị Thu Hiền, Huỳnh Thị Thu Huệ

Tóm tắt: Quả cà chua (Solanum lycopersicum) là thực phẩm giàu dinh dưỡng chứa nhiều hợp chất thứ cấp rất có lợi cho sức khỏe. Sự tạo thành quả cà chua thông qua thụ tinh được điều khiển bởi hormone thực vật auxin thông qua các protein Aux/IAA9 và ARF8. Việc gây đột biến bất hoạt gen SlIAA9 mã hóa cho auxin IAA9 sẽ dẫn đến sự phát triển quả cà chua không thông qua thụ tinh hay quả cà chua không hạt. Hiện nay, hệ thống CRISPR/Cas9 ngày càng được sử dụng phổ biến trong chỉnh sửa các gen mong muốn trên đối tượng thực vật. Trong nghiên cứu này, chúng tôi trình bày các kết quả thiết kế đoạn gRNA vào vector mang cấu trúc CRISPR/Cas9 hướng đến gen SlIAA9 của cà chua đồng thời thử nghiệm khả năng tiếp nhận cấu trúc mang Cas9 ở cây cà chua chuyển gen từ cấu trúc pRGEB31- IAA9G2. Nghiên cứu đã tạo được 2 chủng vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens mang các vector pRGEB31-IAA9G2 và pRGEB32-IAA9G2 chứa các cấu trúc biểu hiện hệ CRISPR/Cas9 hướng tới gen SlIAA9 trên cà chua. Chủng A. tumefaciens pRGEB31- IAA9G2 đã được sử dụng để chuyển gen vào cà chua giống Micro-Tom. Kết quả PCR kiểm tra các dòng chuyển gen cho thấy 5/14 cây chuyển gen thế hệ T0 có mặt gen Cas9 trong hệ gen, như vậy đã có sự tiếp nhận đoạn cấu trúc Cas9 vào hệ gen cà chua. Việc đánh giá hiệu suất gây đột biến, kiểu đột biến và độ ổn định của các đột biến trên gen đích SlIAA9 sẽ được tiến hành trên các cây thế hệ sau, khi cây có sự phát triển bình thường về hình thái cũng như có sự phân ly về gen Cas9 được chuyển vào.

Nguồn trích: Tạp chí Công nghệ Sinh học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2020, Số 1, Tr.147-156

2. Ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển nông nghiệp/ Minh Hà

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia đang phát triển hướng đến mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tuy nhiên, nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế nhằm đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu. Để thúc đẩy phát triển nông nghiệp Việt Nam theo hướng chất lượng cao và bền vững, ứng dụng công nghệ sinh học được coi là công cụ quan trọng giúp nâng cao năng suất và những đặc tính tốt của các sản phẩm lương thực có nguồn gốc từ động vật và thực vật.

Nguồn trích: Tạp chí Con số và Sự kiện/ 2020, Số 11, Tr.19-20, 29

3. Đánh giá hiệu lực ức chế của vi khuẩn Bacillus velezensis đối với nấm Phytophthora sp. gây bệnh sương mai trên cây cà chua/ Lê Vũ Khánh Trang, Lê Thị Mai, Võ Lương Ý Nhi, Huỳnh Thị Ngọc Lan

Tóm tắt: Vi khuẩn Bacillus velezensis hiện nay đang được quan tâm nghiên cứu bởi có nhiều tiềm năng trong việc ứng dụng sản xuất các chế phẩm sinh học phòng trừ bệnh hại và giúp tăng năng suất cho cây trồng. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá khả năng ức chế sự phát triển của nấm Phytophthora sp. gây bệnh sương mai trên cây cà chua của các thành phần môi trường nuôi cấy vi khuẩn B. velezensis với mục đích phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm chế phẩm sinh học. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy các thành phần môi trường nuôi cấy vi khuẩn B. velezensis, bao gồm tế bào vi khuẩn, dịch ngoại bào, dịch enzyme và các thành phần phi enzyme đều có khả năng đối kháng với nấm bệnh Phytophthora sp.. Trong đó, khả năng đối kháng của tế bào vi khuẩn và dịch ngoại bào với nấm bệnh Phytophthora sp. là rất mạnh thể hiện qua hiệu lực ức chế nấm lần lượt là 84,44% và 80% sau 5 ngày. Các enzyme ngoại bào thể hiện hiệu lực đối kháng với nấm bệnh là 72,59% cao hơn 1,6 lần so với các thành phần phi enzyme (45,18%). Hiệu lực đối kháng mạnh với nấm bệnh được chứng minh trong nghiên cứu này sẽ góp phần phát triển đa dạng sản xuất các loại chế phẩm sinh học từ chủng vi khuẩn Bacillus velezensis phục vụ vào công cuộc phòng trừ bệnh sương mai ở cây trồng nói chung và cây cà chua nói riêng.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và công nghệ nông nghiệp Việt Nam/ 2021. Số 1, Tr.88 - 94

4. Xây dựng bản đồ bộ gen lục lạp hoàn chỉnh của loài lan Hài hồng (Paphiopedilum Delenatii Guillaumin 1924) đặc hữu Việt Nam/ Nguyễn Thanh Điềm, Lê Thị Lý, Nguyễn Hữu Thuần Anh, Nguyễn Thành Công, Vũ Thị Huyền Trang

Tóm tắt: Lục lạp (chloroplasts) và ty thể (mitochondria) là những bào quan có bộ gen riêng so với bộ gen trong nhân tế bào. Bộ gen lục lạp cung cấp thông tin nghiên cứu về mối quan hệ tiến hóa của các loài, xác định một loài một cách chính xác, cung cấp chỉ thị ứng dụng trong chuyển gen, nhân giống… Nhờ công nghệ giải trình tự thế hệ mới mà việc giải trình tự bộ gen lục lạp dễ dàng hơn. Tuy nhiên quy trình lắp ráp bộ gen lục lạp hiện nay còn khá phức tạp do yêu cầu cần sử dụng nhiều công cụ tin sinh học khác nhau, yêu cầu máy có cấu hình cao, tốn nhiều thời gian. Trong bài viết này, chúng tôi mô tả chi tiết quy trình lắp ráp bộ gen lục lạp hoàn chỉnh của mẫu lan Hài hồng (Paphiopedilum delenatii) đồng thời đưa ra một số khảo sát giúp cho việc lắp ráp dễ dàng và độ tin cậy cao. Bộ gen lục lạp loài lan Hài hồng sau khi được lắp ráp có chiều dài 160.955 bp, gồm một vùng sao chép lớn (large single copy region, LSC), một vùng sao chép nhỏ (small single copy region, SSC) được phân tách bởi hai vùng lặp lại đảo ngược. Tổng số gen là 130 gen, GC content là 35,6%. Dữ liệu trình tự đã được đăng kí vào Ngân hàng gen (GenBank) với mã số MK463585. Nghiên cứu này còn đưa ra những thông số tối ưu để lắp ráp bộ gen. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp thông tin bộ gen lục lạp hỗ trợ công tác bảo tồn loài lan Hài đặc hữu của Việt Nam mà còn có ý nghĩa trong việc hỗ trợ hướng nghiên cứu lắp ráp bộ gen lục lạp, có thể áp dụng trên nhiều đối tượng khác.

Nguồn trích: Tạp chí Công nghệ Sinh học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2020, Số 1, Tr.87-102

5. Phân loại họ đa gen mã hóa protein liên kết acid béo (FABPS) và nghiên cứu sự biểu hiện của một số gen thuộc họ này ở cá tra nuôi (Pangasianodon hypophthalmus)/ Lê Thị Nguyên Bình, Trần Sơn Hoàng, Trần Thị Huyền Trang, Nguyễn Thị Hoa, Kim Thị Phương Oanh

Tóm tắt: Cá tra nuôi (Pangasianodon hypophthalmus) là một loài cá kinh tế quan trọng ở Việt Nam. Thịt cá tra có chứa thành phần axit béo cao. Protein liên kết acid béo (FABPs) tham gia vào quá trình vận chuyển và chuyển hóa lipid cũng như điều hòa biểu hiện gen và phát triển tế bào. Trong nghiên cứu này, họ gen fabp được khai thác từ cơ sở dữ liệu hệ gen cá tra. Tiếp đó cấu trúc gen, phân loại gen và các mối quan hệ phát sinh loài được tiến hành phân tích. Trong dữ liệu hệ gen cá tra, chúng tôi tìm thấy 10 gen fabp tương đồng với các loài cá khác và 5 gen fabp mới được xác định. Các gen mới xác định này tập trung thành một nhóm riêng trên cây phát sinh chủng loại của họ gen fabp, và cần có các nghiên cứu sâu hơn để hiểu thêm về vai trò và chức năng của chúng. Chúng tôi đã kiểm tra sự biểu hiện gen của các gen fabp3, fabp7 và fabp10a ở các mô cơ, gan và não của cá tra nuôi. Kết quả cho thấy gen fabp10a không biểu hiện mạnh ở cả 3 loại mô, gen fabp3 biểu hiện mạnh nhất ở mô gan và fabp7 biểu hiện mạnh ở mô não. Những kết quả này có thể làm nguyên liệu cho các nghiên cứu sâu hơn về chức năng của gen fabp và sự đa dạng di truyền của chúng ở cá tra nuôi.

Nguồn trích: Tạp chí Công nghệ Sinh học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2021, Số 2, Tr.259-270

6. Ảnh hưởng của điều kiện nuôi cấy đến hoạt động cố định đạm của vi khuẩn phân lập từ đất trồng sắn của Việt Nam/ Phạm Việt Cường, Nguyễn Phương Hoa

Tóm tắt: Các vi khuẩn có khả năng cố định nitơ khí quyển được phân lập từ đất trồng sắn của Việt Nam. Các dòng phân lập tiềm năng được xác định bằng cách phân tích gen 16S rRNA và các đặc điểm hình thái, sinh hóa, văn hóa. Các dòng phân lập được lựa chọn được chỉ định cho loài Bacillus sp. DQT2 M17, Bacillus subtilis DTAN6 M17 và Bacillus megaterium DSHB I8. Ảnh hưởng của điều kiện nuôi cấy đến hoạt tính cố định nitơ của 3 chủng phân lập được chọn đã được nghiên cứu và kết quả thu được cho thấy lượng amoniac tích lũy cao nhất được phát hiện sau 6 ngày ủ ở 35 oC, pH 7,0 với sucrose là nguồn cacbon. Các chủng đã chọn có thể được khai thác làm chế phẩm để sản xuất phân vi sinh.

Nguồn trích: Tạp chí Sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam/ 2021, Số 3, Tr.27-35

7. Đánh giá khả năng bảo quản lạnh tinh bò đực giống Blanc Blue Belge tại Việt Nam/ Nguyễn Hữu Đức, Phạm Thu Giang, Trần Thị Bình Nguyên, Nguyễn Thị Mai, Bùi Đại Phong

Tóm tắt: Xác định khả năng bảo quản lạnh tinh bò đực giống Bò Blanc Blue Belge (BBB) tại Hà Nội-Việt Nam. Nghiên cứu được tiến hành trên tinh dịch của 05 bò đực giống BBB. Kết quả phân tích tinh tươi cho thấy: Màu sắc của tinh dịch là bình thường (trắng sữa, trắng ngà, vàng ngà), thể tích tinh dịch thu được đạt từ 6,35 mL đến 7,48 mL (P<0,05), hoạt lực tinh tươi đạt từ 80,53% đến 82,92% (P<0,05), nồng độ tinh trùng đạt từ 1,02 x 109 tinh trùng/mL đến 1,12 x 109 tinh trùng/mL (P<0,05), tỉ lệ tinh trùng kỳ hình dao động từ 6,45% đến 8,12% (P<0,05), tỉ lệ tinh trùng sống đạt từ 76,34% đến 82,97% (P<0,05), hoạt lực tinh trùng sau giải đông đạt từ 71,33% đến 75,92% (P<0,05). Tinh dịch từ 05 bò đực giống BBB đã được khai thác thành công, các mẫu tinh dịch đều có màu sắc bình thường, số lượng và chất lượng tinh dịch đạt yêu cầu đưa vào sản xuất tinh đông lạnh theo quy định; Tinh trùng dạng cọng rạ của 05 bò đực giống BBB nói trên đã được bảo quản lạnh thành công ở -196oC, hoạt lực tinh trùng sau đông lạnh-giải đông đạt định mức kinh tế kỹ thuật 675/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định.

Nguồn trích: Tạp chí Công nghệ Sinh học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2021, Số 2, Tr.237-244

8. Đa dạng di truyền loài vên vên (Anisoptera costata Korth) ở rừng phòng hộ Tân Phú, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai/ Đặng Phan Hiền, Nguyễn Minh Đức, Nguyễn Phan Lan Hồng, Bùi Thị Tuyết Xuân, Vũ Đình Duy, Nguyễn Minh Tâm

Tóm tắt: Vên vên (Anisoptera costata Korth) là loài phân bố rộng ở rừng nhiệt đới Đông Nam Bộ và Tây Nguyên và đang bị đe dọa ở cả 2 mức độ Quốc gia và Toàn cầu. Để bảo tồn và phát triển bền vững loài Vên vên ở Việt Nam, chúng tôi đã phân tích đa dạng di truyền của loài này tại rừng phòng hộ Tân Phú tỉnh Đồng Nai, trên cơ sở 8 cặp chỉ thị sinh học microsatellite từ 64 cây thuộc 3 quần thể khác nhau (Thác Mai, Miếu Cô Năm và Bầu Nước). Kết quả phân tích đã chỉ ra đa dạng di truyền của cả 3 quần thể đều ở mức trung bình. Hệ số gen dị hợp tử quan sát và kỳ vọng tương ứng là 0,242 và 0,269. Đa dạng di truyền thấp được tìm thấy ở quần thể Miếu Cô Năm (Hệ số gen dị hợp tử quan sát và kỳ vọng là 0,145 và 0,175). Quần thể Miếu Cô Năm có hệ số cận noãn cao hơn (0,168) so với 2 quần thể còn lại. Mức độ đa dạng di truyền giữa các quần thể cũng ở mức trung bình (0,179) và chỉ ra sự trao đổi di truyền bị hạn chế (Nm = 1,15). Kết quả này phản ánh kích thước quần thể và nơi sống bị suy giảm, tuy nhiên, quá trình trao đổi di truyền vẫn được tiến hành, nhưng ở mức độ bị giới hạn. Để bảo tồn và phát triển bền vững loài này ở Tân Phú, ngoài công tác bảo tồn nguyên vị, thì cần tăng cường công tác bảo tồn chuyển vị bằng hình thức thu thập hạt để làm tăng kích thước quần thể, đặc biệt quần thể Miếu Cô Năm.

Nguồn trích: Tạp chí Công nghệ Sinh học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2021, Số 2 , Tr.279-288

9. Gia tăng biểu hiện miraculin tái tổ hợp trong rễ tơ thuốc lá (Nicotiana tabacum) sử dụng promoter và terminator của protein sốc nhiệt 18.2/ La Việt Hồng, Nguyễn Thu Giang, Lê Hoàng Đức, Phạm Bích Ngọc, Chu Hoàng Hà

Tóm tắt: Miraculin là một chất điều chỉnh vị giác, một loại protein được phân lập từ quả thần kỳ (Richadella dulcifica). Nó có thể thay đổi vị chua thành vị ngọt khi tiêu thụ axit chua, mặc dù nó không tạo ra phản ứng ngọt. Miraculin có thể có tiềm năng trong ngành công nghiệp như một chất thay thế cho đường và làm chất tạo ngọt nhân tạo. Vì cây thần kỳ có năng suất quả thấp, nên việc sản xuất miraculin lượng lớn bị hạn chế. Nuôi cấy rễ tơ chuyển gen là hệ thống thay thế tiềm năng để sản xuất miraculin. Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã khảo sát sự biểu hiện của miraculin tái tổ hợp trong rễ cây thuốc lá (Nicotiana tabacum). Để tăng sự biểu hiện của miraculin, promoter và terminator của protein sốc nhiệt 18.2 đã được sử dụng để thúc đẩy sự biểu hiện của gen miraculin trong một hệ thống vật chủ tiềm năng. Các dòng rễ tơ mang gen miraculin chuyển nạp cho thấy sự tăng trưởng nhanh và đạt mức tăng trưởng tối đa sau 35 ngày nuôi cấy. Gen miraculin được điều hòa bởi promoter và terminator của protein sốc nhiệt 18.2, mức độ biểu hiện của miraculin tái tổ hợp đã tăng so với đối chứng sử dụng promoter CaMV 35S và terminator synthase nopaline. Miraculin tái tổ hợp thu được là 19,97 ng/ μg trên tổng protein hòa tan và tương đương với khoảng 2% tổng số protein hòa tan. Lần đầu tiên, miraculin điều chỉnh hương vị đã được biểu hiện thành công trong rễ tơ cây thuốc lá. Kết quả này đưa ra một cách tiếp cận đầy hứa hẹn cho việc ứng dụng sản xuất với miraculin tái tổ hợp.

Nguồn trích: Tạp chí Công nghệ Sinh học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2021, Số 2, Tr.349-358

10. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu acid béo trong phân loại hóa học thực vật đối với các loài rong biển Việt Nam/ Lê Tất Thành, Phạm Thu Huế, Nguyễn Văn Tuyến Anh, Đàm Đức Tiến

Tóm tắt: Biển Việt Nam được đánh giá rất đa dạng, phong phú các loài rong biển. Hiện nay phát hiện hơn 1000 loài, trong đó hơn 800 loài đã được xác định tên khoa học và liên tục cập nhật từ những năm 1950 tới nay. Các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam và quốc tế đã cho thấy, lipid từ rong biển có chứa nhiều hoạt chất quý như acid C20:4n-6 (AA), C20:5n-3 (EPA), C22:6n-3 (DHA), prostaglandin E2… Trong nghiên cứu này, các acid béo từ các mẫu rong biển được chuyển hóa thành dạng metyl este và nhận dạng bằng kỹ thuật sắc ký khí sử dụng detector ion hóa ngọn lửa (GC-FID) với cột Capillary Equity 5 (Merck, L × ID 30m × 0.25 mm, df 0.25 μm). Từ lipid tổng 50 của mẫu rong biển Việt Nam chúng tôi đã nhận dạng được 30 acid béo. Kết quả phân tích cho thấy các acid béo có hàm lượng cao bao gồm C16:0, C18:1n-9, C20:4n-6 (AA). Bên cạnh đó là sự xuất hiện của các axit béo C20:5n-3 (EPA), C22:6n-3 (DHA), C22:5n-3 (DPA), đây là những acid béo có hoạt tính sinh học cao và có ý nghĩa quan trọng trong các hoạt động chuyển hóa của cơ thể. Bằng phương pháp phân tích cấu tử chính PCA, từ bộ dữ liệu các acid béo, chúng tôi đã xác định được 8 acid béo chính có độ tương quan cao và sử dụng để biểu diễn sự phân bố của các loài rong biển trên mặt phẳng hai chiều. Sự phân bố của các loài rong thuộc ngành rong nâu Phaeophyta phụ thuộc vào hàm lượng của 3 acid béo C16:1n- 7, C18:1n-9 và C20:4n-6; các loài thuộc ngành rong đỏ Rhodophyta phụ thuộc vào C15:0, C16:0, C18:0 và các loài thuộc ngành rong lục Chlorophyta phụ thuộc vào C18:1n-7, C18:3n-6. Phương pháp này có thể giúp cung cấp thêm dữ liệu về hóa học trong quá trình phân loại các loài rong biển Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Công nghệ Sinh học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2021, Số 2, Tr.371-379

11. Nhân giống vô tính lan hài Đà Lạt (Paphiopedilum X dalatense)/ Trần Thái Vinh, H’ Yon Niê Bing, Đặng Thị Thắm, Nguyễn Thị Thanh Hằng, Vũ Kim Công, Nông Văn Duy

Tóm tắt: Lan Hài Đà Lạt (Paphiopedilum x dalatense) là một loài hiếm, cho hoa to với màu sắc biến đổi và lá có những đường vằn với những đốm khảm đẹp khó thấy. Trong nghiên cứu này, ảnh hưởng của hai nhóm chất hữu cơ khác nhau: Nhóm khoai tây, chuối và nhóm tryptone, nấm men, peptone lên quá trình sinh trưởng và phát triển của chồi lan Hài Đà Lạt; ảnh hưởng của NAA và acid humic đến sự ra rễ in vitro đã được khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy, môi trường thích hợp cho sự hình thành và phát triển chồi cây là môi trường nuôi cấy MS bổ sung 100 g/L chuối và 100 g/L khoai tây (5,4 chồi/mẫu, 18,8 mm/chồi, 4,5 lá/chồi, 100% chồi sống) hoặc môi trường nuôi cấy MS bổ sung 1 g/L peptone (4,19 chồi/mẫu, 15 mm/chồi, 4 lá/chồi và 92% chồi sống). Môi trường thích hợp cho sự tạo rễ in vitro lan Hài Đà Lạt là môi trường nuôi cấy ½ MS bổ sung 1 mg/L NAA (5,2 lá/mẫu, 4,6 rễ/chồi, 3,56 cm/rễ, 100% chồi hình thành rễ). Tỷ lệ ra rễ đạt 100% trên môi trường nuôi cấy ½ MS bổ sung 2 mg/L acid humic và số rễ, chiều dài rễ đạt cao nhất (5 rễ/chồi, 5,5 cm/rễ) trên môi trường này. Kết quả nghiên cứu nhân giống in vitro lan Hài Đà Lạt góp phần bảo tồn và phát triển bền vững cũng như hướng tới việc nhân nhanh cây giống khỏe mạnh phục vụ thương mại hóa loài lan Hài quý.

Nguồn trích: Tạp chí Công nghệ Sinh học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2021, Số 1, Tr.155--163

12. Nghiên cứu khả năng chống ung thư của dịch chiết lá tươi cây đu đủ đực (carica papaya l.) ở Hà Tĩnh/ Trần Phương Trinh, Phan Bảo Linh, Phạm Thị Tâm

Tóm tắt: Hiện nay, tỉ lệ người dân bị bệnh ung thư đang tăng lên hàng năm. Bên cạnh các biện pháp điều trị như xạ trị, hóa trị, sử dụng tế bào gốc…thì các cây thuốc, các hoạt chất thiên nhiên vẫn luôn được quan tâm nghiên cứu và sử dụng. Với dung môi là cồn 90○, chúng tôi đã chiết được bốn loại cao lỏng: hoa khô, hoa tươi, lá khô, lá tươi cây đu đủ đực. Trong điều kiện in vitro, các loại cao lỏng hoa khô, hoa tươi không thể hiện hoạt tính gây độc đối với các dòng tế bào nghiên cứu là: MCF-7, A549, HT29, Huh 7R, HEK-293 và LLC. Cao lỏng lá tươi và cao lỏng lá khô thể hiện hoạt tính với chỉ số IC50 đạt từ 1,88-13,64 mg/mL, trong đó, cao lỏng lá tươi có hoạt tính cao gấp 4-6 lần cao lỏng lá khô. Cao lỏng lá tươi ở nồng độ 4 mg/mL và 0,8 mg/mL đã ức chế được 50,56% và 23,79% sự sản xuất IL-6 đại thực bào so với đối chứng âm (P<0,01) một cách tương ứng, nhưng chưa thể hiện khả năng cảm ứng sinh IL-2 ở các nồng độ nghiên cứu. Trên chuột nhắt bị gây u thực nghiệm, cao lỏng lá tươi đã thể hiện rõ tác dụng kháng u tích cực so với nhóm đối chứng bệnh lý trong thời gian uống mẫu 28 ngày, với 2 liều dùng 3 mL/kg/ngày và 6 mL/kg/ngày (tương ứng khối lượng mẫu lá tươi là 30 g và 60 g). Cụ thể là sau 28 ngày, cao lỏng lá tươi ở mức liều 6 mL/kg/ngày đã ức chế khối u phát triển tới 33,44%, trọng lượng khối u giảm còn 9,84g (so với 13,76g) (P<0,05); chỉ số bạch cầu giảm mạnh còn 19,1 triệu/mL (so với 41,65 triệu/mL); chỉ số AST giảm còn 1038,97 IU/L (so với 1441,60 IU/L), creatinin giảm còn 20,63 µmol/L (so với 26,37 µmol/L). Những kết quả này là bằng chứng khoa học cho thấy tiềm năng ứng dụng làm sản phẩm hỗ trợ ung thư của cao chiết lá cây đu đủ đực ở Hà Tĩnh.

Nguồn trích: Tạp chí Công nghệ Sinh học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2020, Số 1, Tr.127-134