1. Đặc điểm của văn tế Hán Nôm Bình Định = Characteristics of Han Nom Binh Dinh literature/ Võ Minh Hải, Nguyễn Thị Bé

Tóm tắt: Từ thực tế điền dã, sưu tầm văn tế Hán Nôm trên địa bàn tỉnh Bình Định, nhóm tác giả bước đầu nghiên cứu tổng quan về một thể loại khá đặc biệt trong văn học Hán Nôm Bình Định. Thông qua nội dung đã tìm hiểu được, bài viết hướng đến việc khẳng định những đặc điểm nổi bật của văn tế Hán Nôm Bình Định. Với tư cách là một thể loại văn học gắn liền với chức năng nghi lễ, văn tế Hán Nôm Bình Định đã mang lại những giá trị văn hóa mới, góp phần vào tiến trình phát triển của văn học Bình Định.

Nguồn trích: Tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội/ 2020, Số 9, Tr.45-52

2. Sự phát triển ngôn ngữ thi ca dân tộc thể hiện qua thơ Nôm đường luật của bà Huyện Thanh Quan/ Lư Nguyên Minh, Hoàng Thị Thủy Vân

Tóm tắt: Sự phát triển của ngôn ngữ thơ Việt Nam ở thể thơ Nôm trong thơ Đường của Bà Huyện Thanh Quan được thể hiện qua việc sử dụng từ vựng tiếng Việt một cách sáng tạo và công phu để nâng cao giá trị biểu đạt của những từ thuần Việt này; sử dụng các từ tiếng Trung trong những phong cách tiếng Việt để làm giàu vốn từ ngữ thơ Việt Nam; sử dụng ngữ âm công phu và buồn tẻ hình tượng tu từ của thơ ca truyền thống Việt Nam; thay đổi luật, câu, vần và nhịp điệu tạo nên phong cách đặc sắc riêng của thơ ca Việt Nam. Bài viết có thể được xem như một tài liệu tham khảo cho giáo viên Ngữ văn sử dụng trong giảng dạy nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh.

Nguồn trích: Tạp chí Giáo dục/ 2018, Số 428 (Kỳ 2 - 4), Tr 30-34

3. Chuyển dịch một số bài thơ Nôm sang tiếng Hán: cảm nhận và chia sẻ/ Lê Thị Huyền Trang

Tóm tắt: Dịch thơ là một công việc thú vị nhưng cũng đầy thách thức; người dịch ngoài chuyển tải đầy đủ nội dung ý nghĩa của bản gốc, còn phải lột tả tứ thơ cũng như thể hiện được yếu tố vần luật sang ngôn ngữ đích. Trong phạm vi bài viết này, người viết thử nghiệm chuyển dịch một số bài thơ Nôm trong kho tàng thơ Nôm Việt Nam sang tiếng Hán. Quá trình thử nghiệm cho thấy sự tương đồng nhiều mặt giữa hai ngôn ngữ Việt-Hán, sự kế thừa và phát huy những đặc điểm của thơ Đường luật Trung Quốc trong thơ Nôm cho phép người dịch sử dụng phương pháp chuyển dịch âm vị, dịch thẳng, dịch âm luật để chuyển ngữ. Ngoài ra, người viết đưa ra một số trao đổi của cá nhân về dịch thuật, cũng như đề xuất một số yếu tố cần được lưu giữ trong quá trình chuyển dịch.

Nguồn trích:VNU Journal of Foreign Studies/ 2019, Vol.35, No.5, Tr.155 - 173

4. The characteristics of Sino-Nom funeral oration in Binh Dinh province = Đặc điểm của văn tế Hán Nôm Bình Định/ Võ Minh Hải

Tóm tắt: Từ thực tế điền dã, sưu tầm văn tế Hán Nôm trên địa bàn tỉnh Bình Định, tác giả đã phác thảo một cách khái quát về diện mạo của một thể loại đặc biệt trong văn học Bình Định. Bài viết tiếp tục làm rõ những đặc điểm về nội dung và phương thức nghệ thuật của thể loại văn tế Hán Nôm trong văn học Bình Định. Với tư cách là một thể loại gắn liền với chức năng nghi lễ mang âm điệu xót xa, văn tế Hán Nôm Bình Định đã mang lại những giá trị văn hoá mới góp phần định hình diện mạo văn học Hán Nôm Bình Định.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Đại học Phú Yên/ 2020, Số 25

5. Giới thiệu và phân tích một số chữ Hán có nhiều dị thể ở Việt Nam/ PGS. TS. Trịnh Khắc Mạnh

Tóm tắt: Ở Việt Nam, theo tư liệu mà chúng tôi hiện có, chữ Hán dị thể xuất hiện không muộn hơn thế kỷ XII, thời kỳ độc lập tự chủ, thời kỳ Hán văn ở Việt Nam đã thịnh hành và người Việt Nam đã sử dụng chữ Hán dị thể trong hoạt động trước tác. Bài viết sử dụng phương pháp thực chứng, phân tích một số chữ Hán có nhiều dị thể ở Việt Nam, như các chữ họa, linh, nam, Phật, quốc và thánh; có đối chiếu với một số sách công cụ về chữ dị thể của Trung Quốc, từ đó chứng minh tính đa dạng về chữ Hán dị thể ở Việt Nam nói chúng.

Nguồn trích: Tạp chí Hán Nôm/ 2021, Số 2 (165), Tr. 52 -61

6. Hiện tượng “hay chữ lỏng” và “đối xuất sáo” trong một số tác phẩm của Trần Tế Xương/ Triều Nguyên

Tóm tắt: Trần Tế Xương đi thi năm 15 tuổi, cứ đều đặn ba năm một lần, trải 8 lần như thế, đầy hăm hở và quyết tâm, nhưng chỉ đậu Tú tài, không sao lấy được cử nhân. Chúng tôi cố gắng trả lời câu hỏi này, qua việc phân tích chuyện “hay chữ lỏng” và “đối xuất sáo”, chủ yếu là hiện tượng đầu, như chính tác giả đã thừa nhận. Bài viết chia làm ba phần: đặt vấn đề, giải quyết vấn đề và nhận xét, kết luận. Riêng phần giải quyết vấn đề chia làm ba lĩnh vực thường gặp ở nhà thơ họ Trần: câu đối, thơ thất ngôn bát cú luật Đường và phú luật Đường. Đây là vấn đề không mấy dễ dàng. Nhưng nếu không làm thì không nắm được lý do, để có thể trả lời câu hỏi trên. Có điều, do việc làm này chỉ dừng lại ở việc khảo sát một số tác phẩm có đối nhau.

Nguồn trích: Tạp chí Hán Nôm/ 2021, Số 2 (165), Tr. 33 -45

7. Sức sống trường tồn của thể thơ Đường luật trong văn học Việt Nam/ Nguyễn Công Lý, Nguyễn Công Thanh Dung

Tóm tắt: Đường luật là một thể thơ của văn học Trung Quốc được cha ông ta vay mượn, rồi ít nhiều có cải biến sáng tạo với nhiều dạng thức khác nhau. Thể thơ này tồn tại trong văn học Việt Nam hơn một ngàn năm. Nên có thể gọi đó là thể thơ Đường luật Việt Nam. Ban đầu, cha ông ta sáng tác thể Đường luật bằng chữ Hán, về sau sáng tác bằng chữ Nôm, rồi chữ Quốc ngữ, ít nhiều Việt hóa thể loại, từ đó cải biến với nhiều dạng thức khác nhau. Thể thơ này không chỉ được ưa chuộng trong thời trung đại, mà còn được sử dụng để sáng tác trong thời hiện đại và đương đại. Hiện thể thơ này đang được phục hưng và tạo nên một sân chơi tao nhã, thú vị, bổ ích, trở thành một hiện tượng trong văn học đương đại ở Việt Nam. Trên cơ sở tiến trình phát triển của văn học sử, bài viết sẽ chỉ ra sức sống trường tồn của thể thơ Đường luật Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Hán Nôm/ 2021, Số 3 (166), Tr. 3 -15

8. Tài liệu Hán Nôm về Tản Viên Sơn Thánh - Giá trị văn hóa và tín ngưỡng/ TS. Nguyễn Xuân Diện

Tóm tắt: Bài viết xem xét mối liên hệ giữa truyền thuyết dân gian với thư tịch liên quan đến Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh, trong đó trọng tâm là các văn bản thần tích. Trên cơ sở đó, bài viết chỉ ra cơ sở dữ liệu của việc biên soạn và quá trình biên soạn thần tích chính là quá trình văn bản hóa, cố định hóa các yếu tố động của nguồn văn học dân gian. Thần tích Tản Viên Sơn Thánh không chỉ đã lưu giữ được các dấu vết tích hợp về niên đại biên soạn, mà còn ẩn chứa trong đó các “mã văn hóa” mà khi tiến hành bóc tách ta sẽ thấy các lớp trầm tích văn hóa cổ xưa, là kết tinh của những giá trị giao lưu và hội nhập văn hóa của ba dân tộc Việt - Mường - Dao trong lịch sử.

Nguồn trích: Tạp chí Hán Nôm/ 2021, Số 5 (168), Tr. 13 -29

9. Khảo cứu tín ngưỡng và hệ thống đàn thờ Tiên Nông từ tư liệu Hán Nôm/ Trịnh Khắc Mạnh, Vương Thị Hường

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia trồng lúa nước, nông nghiệp được coi là vấn đề cốt yếu có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống an sinh xã hội. Vì thế, chính sách phát triển nông nghiệp luôn được các vương quyền quan tâm. Cùng với đó, các nghi lễ và tín ngưỡng dân gian nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp cũng được giới chức cầm quyền cho phép tổ chức tiến hành. Một trong những tín ngưỡng nông nghiệp đó là thờ cúng Tiên Nông được tổ chức trong lễ hội Tịch điền. Bài viết thông qua việc khảo cứu tư liệu Hán Nôm, giới thiệu hệ thống đàn thờ và lễ tế Tiên Nông trong tín ngưỡng thờ cúng của người Việt.

Nguồn trích: Tạp chí Hán Nôm/ 2021, Số 4 (167), Tr. 3 - 18

10. Khảo luận tầm nguyên từ ghép Hán Việt có cơ chế ngữ âm tương đồng từ láy/ PGS. TS. Nguyễn Thị Thanh Chung

Tóm tắt: Những từ ghép Hán Việt có cơ chế ngữ âm tương đồng với từ láy thường có các yếu tố Hán Việt tạo từ không phổ cập về nghĩa khiến cho người dùng gặp phải những khó khăn khi sử dụng, thậm chí có thể xác định nhầm từ ghép thành từ láy. Căn nguyên dẫn đến hiện tượng này chủ yếu do yếu tố Hán Việt có tần suất gia nhập vào tiếng Việt thấp, yếu tố Hán Việt bị mờ nghĩa gốc. từ ghép Hán Việt có nguồn gốc từ kinh điển, thư tịch cổ. Bài viết xác lập 75 từ ghép Hán Việt mang những đặc điểm trên và xác định nghĩa của yếu tố Hán Việt, phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố trong từng từ. Đồng thời, các từ ghép Hán Việt này được khảo luận tầm nguyên để nhận định về khả năng vay mượn và sáng tạo của chúng so với từ trong tiếng Hán. Trong mối tương quan này, những từ ghép Hán Việt mang cơ chế ngữ âm tương đồng với từ láy được phân chia thành 04 nhóm gồm nhóm từ sáng tạo, nhóm từ phát triển nét nghĩa, nhóm từ vay mượn nét nghĩa, nhóm từ vay mượn. Kết quả khảo luận tầm nguyên giúp cho một phần từ vựng được phân tích tường tận, qua đó khẳng định được tính linh hoạt, khả năng độc lập của tiếng Việt trong quá trình phát triển từ xưa đến nay.

Nguồn trích: Tạp chí Hán Nôm/ 2021, Số 2 (165), Tr. 3 - 20 

11. Preserving and promoting the values of the Chinese transcribed Vietnamese royal conferment in the area of Tuy Hoa city, Phu Yen province = Bảo tồn và phát huy giá trị sắc phong Hán Nôm trên địa bàn thành phố Tuy Hòa, Tỉnh Phú Yên/ Đào Nhật Kim

Tóm tắt: Sắc phong Hán Nôm là loại hình di sản văn hóa có giá trị, phản ánh nhiều mặt về đời sống văn hóa, tín ngưỡng, kinh tế, xã hội của cộng đồng dân cư địa phương. Bài viết trình bày thực trạng hệ thống sắc phong Hán Nôm trên địa bàn thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên và đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của loại hình di sản văn hóa này trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Đại học Phú Yên/ 2019, Số 21

12. Văn học Hán Nôm miền Nam Trung Bộ trong tiến trình văn học cổ điển Việt Nam/ Võ Minh Hải

Tóm tắt: Bài viết phác hoạ những vấn đề cơ bản của văn học Hán Nôm Nam Trung Bộ trong tiến trình văn học cổ điển Việt Nam. Từ góc nhìn lịch đại, bài viết nêu bật những đóng góp cơ bản của một số tác gia và thể loại tiêu biểu của văn học chữ Hán, chữ Nôm khu vực đặc biệt này. Đề xuất một số hướng nghiên cứu, tiếp cận nhằm xác định rõ vai trò, vị trí của bộ phận văn học Hán Nôm Nam Trung Bộ trong tương quan với văn học dân tộc.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Xã hội Miền Trung/ 2020, Số 6, Tr.26-35

13. Du ký Hán Nôm và du ký quốc ngữ đầu thế kỷ XX – Từ góc nhìn so sánhNguyễn Thị Tú Nhi

Tóm tắt: Du ký Việt Nam từ thời trung đại đến thời hiện đại đã có sự vận động, chuyển biến nội tại để tạo nên diện mạo riêng. Giữa du ký Hán Nôm thời trung đại và Du ký Quốc ngữ đầu thế kỷ XX, sự khác biệt không chỉ về ngôn ngữ mà còn về nội dung và nghệ thuật. Về nội dung, sự khác biệt giữa du ký Hán Nôm và Du ký Quốc ngữ thể hiện ở các phương diện như: thiên hướng chủ tinh và chủ sự phạm vi phản ánh, nguyên tắc chuyển dịch thẩm mỹ, tính chất nguyên hợp…Về nghệ thuật, điểm phân biệt giữa du ký Hán Nôm và du ký Quốc ngữ là nghệ thuật ngôn từ, yếu tố huyền thoại, kỳ ảo…

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Xã hội Tp. Hồ Chí Minh/ 2018, Số 238

14. Bước đầu khảo sát hệ thống Thành hoàng ở Quảng Bình qua tư liệu Hán Nôm/ Nguyễn Văn Tuân

Tóm tắt: Quảng Bình là một trong những tỉnh sớm có nhiều cơ sở thờ tự để thực thi tín ngưỡng Thành hoàng. Vấn đề này được ghi chép rất rõ trong các tài liệu Hán Nôm mà hiện nay vẫn còn đang lưu trữ được. Để góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung, Quảng Bình nói riêng, việc căn cứ vào tài liệu Hán Nôm để tìm ra sự tích của các vị Thành hoàng mà nhân dân Quảng Bình tôn thờ là việc cần thiết. Bài viết này, khảo sát hệ thống Thành hoàng ở Quảng Bình qua tư liệu Hán Nôm hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Thông tin Khoa học xã hội và qua một số Thần sắc đang nằm rải rác ở các địa phương trong tỉnh, nhằm cung cấp những thông tin hữu ích tới các nhà nghiên cứu quan tâm tham khảo.

Nguồn trích: Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ/ 2019, Số 2

15. Di sản Hán Nôm ở Quảng Ngãi: Giá trị, thực trạng và giải pháp bảo tồn/ TS. Nguyễn Đăng Vũ

Tóm tắt: Khái lược Quảng Ngãi là một vùng đất có lịch sử hình thành và phát triển khá lâu đời. Cùng với sự hình thành vùng đất, di sản Hán Nôm với các hình thức tồn tại của chúng, đã đồng hành cùng người Việt đi mở cõi, khai hoang, lập nghiệp, xây dựng quê hương, đất nước, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, di sản Hán Nôm ngày càng bổ sung nhiều loại hình, có mặt ở hầu hết các làng xã đồng bằng, ven biển, hải đảo trong tỉnh, là phương tiện duy nhất điều hành xã hội trong suốt 5, 6 thế kỷ, trước khi chữ Quốc ngữ ra đời và dần dần thay thế chữ Hán, chữ Nôm ở vùng đất này, cũng như ở cả nước. Bài viết giới thiệu về các loại hình chữ Hán Nôm, nhận diện một số giá trị cơ bản, thực trạng và các giải pháp bảo tồn.

Nguồn trích: Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ngãi