1.Thích ứng của người Khmer với sự thay đổi điều kiện canh tác nông nghiệp mới ở huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang = Adaptation of Khmer people to the new changing agricultural farming conditions in Tinh Bien district, An Giang province/ Phạm Huỳnh Thanh Vân, Thái Huỳnh Phương Lan, Đường Huyền Trang

Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích các nguồn dữ liệu về sự thay đổi nguồn nước được thu thập, kết hợp với phương pháp phỏng vấn sâu và quan sát thực địa, bài viết phân tích sự thích ứng của người Khmer (Khơ-me) tại huyện Tịnh Biên, Tỉnh An Giang với sự thay đổi điều kiện canh tác nông nghiệp mới trước tác động của biến đổi khí hậu. Đồng thời, nhóm tác giả cũng đưa ra các giải pháp cho thay mối liên hệ giữa cơ hội và thách thức ở từng cấp độ thích ứng của các cộng đồng người Khmer trước sự suy giảm nguồn nước, trong đó chú trọng đến hai nhóm giải pháp công trình và phi công trình, nhằm mang lại hiệu quả lâu dài để phát triển sinh kế bền vững.

Nguồn trích: Tạp chí Dân tộc học/ 2021, Số 6 , Tr.63 - 76

2. Thực trạng công tác kế toán tại các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang = Accounting situation in agricultural cooperatives in An Giang province/ Vũ Thị Hải, Phí Thị Diễm Hồng, Nguyễn Văn Phương

Tóm tắt: Nghiên cứu định tính này nhằm nâng cao sự hiểu biết về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia vào các tổ chức xã hội của hội viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự nhiệt huyết với cộng đồng, lợi ích mà hội viên nhận được (vật chất và tinh thần) và sự tin tưởng vào ban quản trị là những động cơ cốt lõi để hội viên tham gia vào những tổ chức này. Bên cạnh đó kỹ năng quản lý yếu, thiếu dân chủ và phí hội viên không hợp lý là những yếu tố ngăn cản trở sự tham gia của hội viên. Các phát hiện cũng ủng hộ các lý thuyết cơ bản về những yếu tố nào có khả năng thúc đẩy sự tham gia của các thành viên trong một tổ chức xã hội. Hơn nữa, kết quả này cũng cung cấp những hiểu biết có giá trị về các yếu tố, mà các nhà quản lý cần tập trung để đưa tổ chức của họ ngày càng trở nên tốt hơn.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam/ 2022, Số 1, Tr.89-97

3.Hiệu lực của ba dịch trích thực vật trong việc phòng trừ rầy nâu, sâu cuốn lá và bọ xít dài trên ruộng lúa ở huyện Châu Thành, tỉnh An Giang = Effects of three plant extracts in nilaparvata lugens, cnaphalocrosis medinalis and leptocorisa oratoria control on rice fields in Châu Thành district, An Giang province / Lê Minh Tuấn, Lâm Thị Mỹ Linh

Tóm tắt: Ba dịch trích thực vật được trích ly từ rễ cây Thuốc cá, lá Trúc đào và lá Xoan được tiến hành thử nghiệm hoạt tính phòng trừ Rầy nâu, Sâu cuốn lá và Bọ xít dài. Kết quả thử nghiệm trên ruộng lúa cho thấy, hiệu quả của ba dịch trích trên có khả năng phòng trừ Rầy nâu, Sâu cuốn lá nhỏ, Sâu cuốn lá lớn và Bọ xít. Trong đó, dịch trích phối trộn (rễ cây Thuốc cá, lá Trúc đào và lá Xoan) cho hiệu quả trừ Rầy nâu đạt cao nhất (76,67%) ở 3 ngày sau khi phun tương đương với phun thuốc Vitarko (73,33%). Tương tự, hiệu quả của công thức phối trộn cũng cho hiệu quả phòng trừ Sâu cuốn lá lớn đạt 68% tương đương với sử dụng thuốc sinh học Vitarko (67,11%) ở 3 ngày sau khi phun. Còn đối với Bọ xít, hiệu lực của dịch trích phối trộn cũng cho hiệu quả đạt 75% ở 7 ngày sau phun; tương đương với thuốc sinh học Vitarko (73,33%).

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Sài Gòn)/ 2021, Số 77, Tr.40-47 

4. Ảnh hưởng mức bổ sung thức ăn hỗn hợp đến tiêu thụ và tiêu hóa dưỡng chất thức ăn của bò lai WAGYU giai đoạn 13-16 tháng tuổi tại An Giang = Effect of different concentrate levels on feed intake and nutrient digestibility for crossbred beef cattle F1 (Wagyu x Zebu cross) from 13 to 16 months of age in An Giang province, Vietnam/ Nguyễn Bình Trường, Trương Thanh Trung

Tóm tắt: Xác định mức bổ sung thức ăn hỗn hợp (TAHH) cho kết quả tối ưu về lượng TA tiêu thụ, dưỡng chất tiêu hóa và tăng khối lượng (TKL) bò lai Wagyu 13-16 tháng tuổi. Năm con bò đực F1 (Wagyu x lai Zebu) với 12,7±1,66 tháng; KL 232±29,5kg được sử dụng vào mô hình (5x5) Latin Square (14 ngày/giai đoạn). Sự khác nhau là các mức TAHH sử dụng trong khẩu phần 1,2; 1,5; 1,8; 2,1 và 2,4 kg/con/ngày, tương ứng với nghiệm thức C1,2; C1,5; C1,8; C2,1 và C2,4. Thức ăn cơ bản là rơm khô và cỏ Voi, TAHH dùng để bổ sung theo yêu cầu TN. Kết quả thể hiện sự cải thiện lượng dưỡng chất và năng lượng tiêu thụ (P0,05). Lượng DM ăn vào trên 100kg KL tăng dần (P<0,05) từ 2,01 đến 2,16; 2,18; 2,27 và 2,34kg đối với C1,2; C1,5; C1,8; C2,1 và C2,4. Mức CP/100kg KL (kg) của C2,4 (0,220) cao có ý nghĩa (P<0,05) so với C2,1 (0,207), C1,8 (0,192), C1,5 (0,180) và C1,2 (0,161). Tỷ lệ tiêu hóa chất khô cao nhất tại C2,4 so với C1,2 (P<0,05), chất hữu cơ (OM) và CP cũng có kết quả tương tự. Tuy nhiên, tỷ lệ tiêu hóa CP của C1,5 (65,7%) khác biệt không có ý nghĩa với C1,2 (64,4%), C1,8 (67,6%) và C2,1 (69,6%). Bên cạnh đó, lượng CP tiêu hóa tăng dần (P<0,05) từ C1,2 (0,258kg) đến C2,4 (0,359kg) và tương quan thuận với CP tiêu thụ y=0,903x-0,1028 (R2 =0,85). Bổ sung TAHH tại C1,2; C1,5; C1,8; C2,1 và C2,4 giúp nâng TKL bò thịt tương ứng là 357, 482, 516, 650 và 727 g/con/ ngày. Do đó, mức bổ sung 1,5-1,8kg TAHH/con/ngày cho kết quả tốt về TA và dưỡng chất tiêu thụ, tiêu hóa dưỡng chất và tăng khối lượng bò lai Wagyu giai đoạn 13 đến 16 tháng tuổi.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi/ 2021, Số 272, Tr.28 - 34

5. Đánh giá độ phì nhiêu đất canh tác lúa trong và ngoài đê bao ngăn lũ ở nhóm đất có vấn đề của tỉnh An Giang = Assessing fertility of problem soils inside and outside the full dike system used for rice cultivation in An Giang province / Trần Bá Linh, Trần Sỹ Nam, Huỳnh Công Khánh, Lâm Văn Hậu, Mitsunori Tarao

Tóm tắt: Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá tính chất vật lý, hóa học đất trong và ngoài đê bao ngăn lũ ở nhóm đất phèn ở Tri Tôn và đất phù sa cổ ở Tịnh Biên. Số lượng mẫu đất được thu ngẫu nhiên trên mỗi nhóm đất là 32 mẫu gồm: 16 mẫu trong đê (vùng lúa 3 vụ) và 16 mẫu ngoài đê (lúa 2 vụ). Kết quả nghiên cứu cho thấy việc canh tác lúa 3 vụ trong đê bao đã làm pH đất trong đê thấp hơn so với pH đất ngoài đê; EC của đất trong đê cao hơn so với EC của đất ngoài đê. Hàm lượng chất hữu cơ tầng mặt trong đê (3 vụ lúa) cao hơn so với đất ngoài đê (2 vụ lúa). Từ đó dẫn đến khả năng trao đổi cation (CEC), đạm tổng số của đất trong đê cũng cao hơn so với đất ngoài đê, đặc biệt ở tầng đất mặt Ap. Trong khi đó, hàm lượng lân tổng số và kali tổng số khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở cả hai điểm nghiên cứu. Độ nén dẽ của tầng đất Bg luôn cao hơn ở đất trong đê so với đất ngoài đê ở cả hai điểm nghiên cứu Tri Tôn và Tịnh Biên thể hiện qua độ xốp và hệ số thấm thấp, dung trọng và độ chặt của đất cao.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Cần Thơ)/ 2021, Số CĐMT, Tr.51-66

6. Đánh giá hiệu quả tài chính, xã hội, môi trường của mô hình canh tác lúa trong vùng đê bao trước và sau xả lũ tại huyện Tri Tôn, An Giang = Evaluating the economic, social and environmental efficiency of rice cultivation before and after flood discharge in Tri Ton, An Giang / Trần Sỹ Nam, Hồ Vũ Khanh, Nguyễn Thị Kim Hai, Hồ Minh Nhựt, Huỳnh Công Khánh

Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường trong vùng đê bao ở thời điểm trước và sau xả lũ, làm cơ sở đề xuất biện pháp quản lý lũ vùng đê bao hiệu quả tại huyện Tri Tôn, An Giang. Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích, thang đo Likert trong đánh giá số liệu. Các chỉ tiêu dựa trên các tiêu chí đánh giá đất đai của Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO) và các nghiên cứu đã được thực hiện ở Đồng bằng sông Cửu Long. Sau xả lũ, trung bình năng suất lúa (6,4 tấn/ha) cao hơn trước xả lũ (5,6 tấn/ha); lợi nhuận 15,8 triệu đồng/ha/vụ cao hơn trước xả lũ 11,4 triệu đồng/ha/vụ; lượng phân bón, lượng thuốc bảo vệ thực vật cũng như tần suất sử dụng thuốc giảm so với trước xả lũ. Môi trường đất sau xả lũ được cung cấp thêm phù sa, dinh dưỡng và tăng nguồn lợi thủy sản. Kết quả nghiên cứu cho thấy canh tác lúa sau xả lũ mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường so với trước xả lũ. Mô hình canh tác lúa sau xả lũ cho tổng số điểm 3 mục tiêu (kinh tế, xã hội và môi trường) lớn hơn thời điểm trước xả lũ với số điểm lần lượt là 0,96 và 0,86.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Cần Thơ)/ 2021, Số CĐMT, Tr.16-24

7. Đánh giá hiện trạng canh tác và hiệu quả tài chính của canh tác lúa trong và ngoài đê bao ở huyện Tri Tôn và Tịnh Biên - tỉnh An Giang = Evaluation of the current farming system and return on investment of the rice cultivation inside and outside the dike in tri ton and Tinh Bien districts – An Giang province/ Trần Bá Linh, Trần Sỹ Nam, Nguyễn Thị Hồng Điệp, Lâm Văn Hậu

Tóm tắt: Quá trình canh tác lâu dài trong vùng đê bao (không xả lũ), hiệu quả sản xuất sẽ bị ảnh hưởng. Mục tiêu của đề tài nhằm đánh giá hiện trạng canh tác và hiệu quả tài chính của việc canh tác lúa trong và ngoài đê bao ở vùng đất phèn và đất phù sa cổ của tỉnh An Giang. Nghiên cứu được thực hiện tại xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn và xã An Nông, huyện Tịnh Biên. Tại mỗi huyện phỏng vấn ngẫu nhiên 60 nông hộ có hoạt động sản xuất lúa trong và ngoài đê bao. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng chi phí bình quân sản xuất một vụ lúa của mô hình lúa 3 vụ trong đê bao cao hơn có ý nghĩa thống kê so với mô hình lúa 2 vụ ngoài đê ở cả 2 điểm nghiên cứu Tri Tôn và Tịnh Biên, trong đó chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật là cao nhất. Chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong vùng canh tác lúa 3 vụ (trong đê) cao gấp 1,48 lần tại Tri Tôn và 1,15 lần tại Tịnh Biên so với vùng canh tác lúa 2 vụ (ngoài đê). Tổng lợi nhuận bình quân 1 vụ lúa của mô hình canh tác lúa 2 vụ cao hơn mô hình canh tác lúa 3 vụ tại Tri Tôn là 3.410.822 đồng/ha/vụ, và Tịnh Biên là 2.867.819 đồng/ha/vụ.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Cần Thơ)/ 2021, Số CĐMT, Tr.41-51

8. Nghiên cứu tính chất vật lý và hóa học đất phù sa canh tác lúa dưới tác động của đê bao ngăn lũ ở huyện Châu Phú - tỉnh An Giang. = Physical and chemical properties of alluvial soil cultivating rice under the impact of flood prevention dike in Chau Phu district, An Giang province/ Trần Bá Linh, Trần Sỹ Nam, Mitsunori Tarao, Phù Quốc Toàn, Nguyễn Quốc Khương

Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá đặc tính lý, hóa học đất phù sa thâm canh lúa dưới tác động của đê bao tại xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Đề tài thực hiện thu 64 mẫu đất nguyên thủy và xáo trộn ở trong và ngoài đê trên đất phù sa. Mẫu đất được lấy ở tầng Ap (0 - 15 cm) và tầng Bg (15 - 30 cm). Kết quả phân tích cho thấy, đất phù sa trong và ngoài đê được phân loại đất sét pha thịt, Gleyic Fluvisols theo FAO/UNESCO. Độ nén dẽ ở tầng Bg của đất ở ngoài đê cao hơn đất ở trong đê, với dung trọng lần lượt là 1,29 g/cm3 và 1,14 g/cm3 . Ngoài ra, độ xốp, tính thấm và lượng nước hữu dụng ở tầng Bg của đất phù sa trong đê thấp hơn ngoài đê. Canh tác lúa trong đê dẫn đến tích tụ muối hòa tan cao hơn so với canh tác ngoài đê, nhưng EC vẫn nằm trong ngưỡng tối ưu cho cây lúa phát triển. Trong khi đó pH, khả năng trao đổi cation và hàm lượng đạm tổng số khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa đất phù sa trong đê và ngoài đê.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam/ 2021, Số 9, Tr.92 - 95

9. Đa dạng thành phần loài cỏ dại thuộc họ cói (cyperaceae) và họ hòa bản (poaceae) trong các ruộng lúa ở tỉnh An Giang = Diversity of weed species composition of cyperaceae and poaceae in paddy rice field in An Giang province/ Đặng Minh Quân, Trần Thị Hằng, Trần Sỹ Nam

Tóm tắt: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm cung cấp dữ liệu về thành phần loài cỏ dại thuộc họ Cói và Hòa thảo trong các ruộng lúa ở tỉnh An Giang. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thành phần loài cỏ dại thuộc hai họ Cói và Hòa thảo rất đa dạng với 38 loài thuộc 25 chi, trong đó có 27 loài có giá trị sử dụng. Số loài hiện diện nhiều nhất là ở vụ 1 và ở các ruộng phía trong đê bao. Tuy thành phần loài đa dạng nhưng chỉ có một số ít loài xuất hiện với tần suất rất cao, hầu hết các loài còn lại có tần suất xuất hiện rất thấp. Huyện Châu Phú có mật độ cỏ dại cao nhất, trung bình đạt 28,42 cây/m2. Mật độ cỏ dại ở vụ 1 cao nhất trong 3 vụ (15,79 cây/m2). Các ruộng ở phía ngoài đê bao có mật độ cỏ dại cao hơn các ruộng lúa phía trong đê bao (15,37 cây/m2). Tuy vụ 1 có sự phong phú về loài hơn vụ 3, nhưng sự đa dạng loài và sự bình đẳng giữa các loài trong quần xã cỏ dại ở vụ 1 thấp hơn vụ 3. Các ruộng lúa ở phía trong đê bao có sự phong phú về loài cao hơn so với phía ngoài đê bao, nhưng các chỉ số H’ và 1 – λ lại thấp hơn.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Đồng Tháp)/ 2021, Số 5, Tr.93-103 


10. Bước đầu khảo sát sự đa dạng côn trùng thiên địch trên ruộng lúa mùa nổi tại xã Vĩnh Phước huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang/ Nguyễn Thị Thái Sơn, Trần Vĩnh Sang.

Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện tại xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang nhằm xác định sự đa dạng loài côn trùng thiên địch trên lúa mùa nổi. Thành phần côn trùng và thiên địch trên ruộng lúa ghi nhận 86 loài thuộc 10 bộ côn trùng (Diptera, Coleoptera, Hemiptera, Hymenoptera, Lepidoptera, Orthoptera, Thysanoptera, Odonata, Dermaptera, Homoptera) trong đó có 4 bộ chiếm đa số, bao gồm bộ Cánh nửa cứng (Hemiptera), bộ Cánh màng (Hymenoptera), bộ Hai cánh (Diptera) và bộ Cánh cứng (Coleoptera). Kết quả khảo sát còn phát hiện được 17 loài nhện, trong đó có đến 16 loài thuộc bộ Araneae và 1 loài duy nhất thuộc bộ Acari. Tính phong phú và đa dạng của một số loài côn trùng và nhện trong ruộng lúa mùa nổi cao hơn ruộng lúa cao sản. Chỉ số đa dạng trên ruộng lúa mùa cao hơn chỉ số đa dạng của các ruộng lúa cao sản.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam/ 2021, Số 3, Tr.70 - 74

11. Nghiên cứu bổ sung boron (B) cho cây mè đen (Sesamum indicum L.) vụ hè - Thu trồng trên đất phù sa tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang/ Nguyễn Thị Bích Thắm, Lê Vĩnh Thúc, Trần Ngọc Hữu, Nguyễn Quốc Khương, Trần Thị Bích Vân, Nguyễn Văn Chương

Tóm tắt: Thí nghiệm thực hiện nhằm mục tiêu tìm ra nồng độ B thích hợp gia tăng sinh trưởng và năng suất mè đen trồng vụ Hè - Thu tại huyện Châu Phú, tinh An Giang. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn gồm sáu nghiệm thức, năm lần lặp lại, mỗi lặp lại là 25 m2. Các nghiệm thức thí nghiệm gồm (1): Đối chứng (không phun B), (2) phun Canxi - B (theo nông dân), (3) phun B 150 ppm, (4) phun B 300 ppm, (5) phun B 600 ppm, (6) phun B 1.200 ppm. B được phun bổ sung vào thời điểm 20 và 30 ngày sau khi gieo. Kết quả thí nghiệm cho thấy phun B nồng độ 150 ppm làm tăng số trái trên cây, số hạt trên trái và dẫn đến năng suất mè đen tăng 29,5% so với không phun B. Phun bổ sung B với nồng độ 150ppm cũng giúp cây mè tăng hàm lượng N, P trong lá ở thời điểm 40 ngày sau gieo.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Đất/ 2021, Số 63, Tr.34 - 39

13. Đánh giá các giống lúa nếp mới được chọn tạo ở tỉnh An Giang = Evaluation of newly bred glutinous rice varieties in An Giang province/ Huỳnh Quang Tín, Trần Thị Khả Tú, Lê Thị Huyền Linh, Nguyễn Thành Tâm

Tóm tắt: Nghiên cứu nhằm đánh giá đặc tính hình thái nông học, chất lượng gạo và tính kháng sâu bệnh của 6 giống lúa nếp, bao gồm Nếp thơm AG, TMT2, NV25, NV26, NV27, ĐÙM 3T. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với ba lần lặp lại, diện tích mỗi lô là 20 m2 (4 m × 5 m). Kết quả đánh giá cho thấy, giống Nếp thơm AG và NV26 có năng suất cao (8,24 và 6,43 tấn/ha). Các giống đều có hàm lượng amylose (5,3 - 7,5%) thấp hơn so với đối chứng; 3 giống có mùi thơm và cơm dẻo ngon hơn giống đối chứng; 4 giống có tính kháng với bệnh đạo ôn. Trong số các giống nghiên cứu, giống Nếp thơm AG là triển vọng nhất, thời gian sinh trưởng ngắn; năng suất cao hơn giống đối chứng (14 - 24%), hàm lượng amylose thấp (6,5%), cơm thơm, dẻo; kháng bệnh đạo ôn. Giống Nếp thơm AG cần tiếp tục các khảo nghiệm và đăng ký công nhận lưu hành để phát triển sản xuất lúa nếp chất lượng cao cho tỉnh An Giang và đồng bằng sông Cửu Long.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam/ 2021, Số 8, Tr.11 - 17