TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

1. Khái quát về tình hình thực hiện Luật Công chứng năm 2014 và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động công chứng / Vũ Thị Lý

Tóm tắt: Ngày 20/6/2014, Quốc hội đã thông qua Luật Công chứng, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Sau hơn 6 năm triển khai thực hiện, Luật Công chứng năm 2014 đã đạt nhiều kết quả góp phần tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi và tin cậy cho các hoạt động đầu tư kinh doanh, thương mại; góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện Luật Công chứng đã phát sinh một số vấn đề mới chưa được Luật điều chỉnh; đồng thời một số quy định cũng đã bộc lộ hạn chế, bất cập, cần được nghiên cứu, tổng kết, đánh giá toàn diện để đề xuất, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định. Bài viết này đánh giá bước đầu về một số kết quả, hạn chế, bất cập và nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, bất cập trong tổ chức thực hiện Luật Công chứng.

Nguồn trích: Tạp chí Nghề luật - 2022 - no.1 - tr.14- 21 – ISSN.1859-3631

2Một số nội dung cần quan tâm tại Nghị quyết của Chính phủ về chính sách phát triển nghề công chứng = Some issues that need attention in the Government’s Resolution on the policy on development of the notary profession Tuân Đạo Thanh; Phạm Thu Hằng;  

Tóm tắt: Nghị quyết số 172/NQ-CP ngày 19/11/2020 của Chính phủ về chính sách phát triển nghề công chứng ra đời đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng, hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động công chứng của nước ta. Thông qua bài viết, nhóm tác giả đưa ra một vài phân tích, luận giải về một số nội dung của Nghị quyết này cần quan tâm khi triển khai thực hiện.

Nguồn trích: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật - 2022 - no.1 - tr.57-62 - ISSN.9866-7535

3.Truất quyền hưởng di sản những vướng mắc trong hoạt động công chứng = Deprivation of the right to inherit - Problems in notary activities Nguyễn Thị Lan Hương; Lại Thị Bích Ngà; 

Tóm tắt: Bài viết bàn về những vướng mắc pháp luật liên quan đến truất quyền hưởng di sản trong thực tế hoạt động công chứng và đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật trong lĩnh vực này.

Nguồn trích: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật - 2022 - no.3 - tr.49-53 - ISSN.9866-7535

4. Vai trò của Nhà nước trong bảo vệ chính sách công đối với hợp đồng, giao dịch về bất động sản thông qua hoạt động công chứng / Ninh Thị Hiền

Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng hợp đồng, giao dịch về bất động sản và hoạt động công chứng tại Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm chính sách công của Nhà nước đối với các hợp đồng, giao dịch về bất động sản thông qua hoạt động công chứng.

Nguồn trích: Tạp chí Tòa án Nhân dân - Điện tử - 2022 – ISSN.2588-1434

5. Khái niệm, bản chất, vài trò của công chứng ở Việt Nam - pháp luật hiện hành và định hướng hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới/Nguyễn Ngọc Điện.

Tóm tắt: Công chứng được hiểu là việc bảo đảm tính xác thực và hợp pháp của các giao dịch. Sự hình thành của dịch vụ công chứng ở Việt Nam gắn liền với các nỗ lực hoàn thiện chế độ pháp lý về bằng chứng của giao dịch, nghĩa là cũng theo đúng logic hình thành và phát triển công chứng ở các nước. Theo thời gian, hệ thống công chứng Việt Nam dần được hoàn thiện cả về tổ chức và hoạt động, vừa tiệm cận các mô hình công chứng tiên tiến, vừa giữ được bản sắc riêng của công chứng Việt Nam. Tuy nhiên, một loạt các vướng mắc gắn với tính đặc thù của mô hình công chứng Việt Nam cũng được đặt ra đối với người làm luật. Có những vướng mắc kéo dài đến nay vẫn gây khó khăn cho hoạt động công chứng. Để hoàn thiện khung pháp lý theo tiêu chí bảo đảm tính hợp pháp và an toàn của giao dịch cũng như sự an toàn cho công chứng viên, cần tham khảo mô hình công chứng ở các nước tiên tiến, đặc biệt là mô hình công chứng latinh và nhất là mô hình công chứng của Pháp.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp - 2021 - no.24 - tr.15 - 23 - ISSN.1859 - 2953

6. Các quy định pháp luật về chứng thực – Một số hạn chế và kiến nghị sửa đổi, bổ sung / Trần Việt Dũng

Tóm tắt: Các quy định pháp luật về chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ kí và chứng thực từ hợp đồng, giao dịch (sau đây gọi là các quy định pháp luật về chứng thực) là hành lang pháp lý quan trọng để các tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận tính chính xác, tính hợp pháp của các loại giấy tờ, văn bản hoặc chữ ký của các cá nhân; qua đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức có liên quan trong các quan hệ dân sự, kinh tế, lao động, hành chính…Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, các quy định pháp luật về chứng thực vẫn còn hạn chế nhất định cần được tiếp tục hoàn thiện. Vì vậy, bài viết này, trên cơ sở phân tích một số hạn chế của các quy định pháp luật về chứng thực, sẽ đề xuất một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về chứng thực để góp phần hoàn thiện các quy định về chứng thực, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

Nguồn trích: Tạp chí Pháp luật và thực tiễn – 2022 – no.50 – tr.31-41 - ISSN.2526-2666

7. Bất cập trong quy định pháp luật về điều kiện thành lập văn phòng công chứng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật / Nguyễn Hồng Chi

Tóm tắt: Văn phòng công chứng (VPCC) là một trong hai hình thức hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng hiện nay. Việc ghi nhận sự tồn tại song song với mô hình Phòng công chứng, nhà nước đang dần rút khỏi hoạt động cung ứng dịch vụ công chứng, mà “nhường” cho các tổ chức ngoài nhà nước hoạt động. VPCC thực hiện chức năng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của các hợp đồng và giao dịch bằng văn bản, và tính chính xác, hợp pháp không trái đạo đức của bản dịch được quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Công Chứng 2014. Từ đó có thể tránh được những rủi ro pháp lý cho chủ thể có quyền, hạn chế tranh chấp có thể xảy ra ở mức thấp nhất, quyền lợi và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân cũng được bảo vệ. Với tầm quan trọng này Luật Công chứng 2014 và pháp luật có liên quan cần thiết phải quy định chặt chẽ về cơ cấu, tổ chức, điều kiện thành lập của VPCC… Tuy nhiên khi nghiên cứu về điều kiện thành lập VPCC tác giả nhận thấy còn khá nhiều điểm hạn chế, chẳng hạn như quy định về loại hình hoạt động của VPCC một cách quá cứng nhắc, cách đặt tên VPCC chưa phát huy được hiệu quả hoạt động của VPCC, quy định nhiều trường hợp bất hợp lý phải thay đổi tên VPCC, vẫn còn nhiều điểm phải bàn về quy định người đại diện theo pháp luật của VPCC… Trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ phân tích những điểm hạn chế nêu trên và đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục những bất cập về điều kiện thành lập VPCC hiện nay.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu khoa học & Phát triển kinh tế (Trường Đại học Tây Đô) – Online – 2022 - no.15 – tr.140-153 – ISSN.2588-1221

TẠP CHÍ IN CÓ TẠI THƯ VIỆN (Bản in được lưu trữ tại Tầng 4)

8. Cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển công chứng số ở Việt Nam / Nguyễn Thanh Đình

Tóm tắt: Một thực tế là tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ không đi liền với sự việc điều chỉnh kịp thời của pháp luật, ngay cả ở những nước đã có những bước tiến đáng kể về ứng dụng công chứng điện tử như Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc vẫn chưa thể hoàn thiện khung pháp luật về công chứng số. Đối với Việt Nam, công chứng số hay công chứng điện tử vẫn còn rất mới mẻ. Khung pháp luật còn mỏng và đang hoàn thiện. Yêu cầu xây dựng khung pháp luật về công chứng điện tử là thách thức đối với việc xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay. Với mong muốn góp phần vào việc thúc đẩy hình thành công chứng số ở Việt Nam, dựa trên nghiên cứu Luật Công chứng của một số nước đã phát triển công chứng số và kinh nghiệm thực tiễn bản thân trong quá trình nghiên cứu, phát triển ứng dụng nghệ số vào hoạt động công chứng, Tác giả nêu một số ý kiến nhằm luận giải những vấn đề cơ bản về cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển công chứng số ở Việt Nam trong thời gian tới.

Nguồn trích: Tạp chí Nghề luật - 2022 - no.6 - tr.46-52 - ISSN.1859-3631

9. Phân định giữa công chứng và chứng thực / Tuấn Đạo Thanh; Phạm Thu Hằng

Tóm tắt: Luật Công chứng (LCC) năm 2006, một trong những thay đổi đáng chú ý nhất trong kỹ thuật lập pháp liên quan đến lĩnh vực công chứng chính là việc tách chứng thực ra khỏi công chứng. Quan điểm kể trên tiếp tục được duy trì tại LCC năm 2014. Nói theo cách khác, trước đây hành vi công chứng và hành vi chứng thực luôn được điều chỉnh chung bằng một văn bản quy phạm pháp luật. Nhưng kể từ khi LCC năm 2006 ra đời, hai hành vi kể trên đã được điều chỉnh bằng những văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt. Cụ thể, trong khi hành vi công chứng được điều chỉnh bằng LCC năm 2006, LCC năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật hướng dẫn thi hành thì hành vi chứng thực lại được điều chỉnh bằng Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 04/2012/NĐ-CP ngày 20/01/2012 và Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của Chính phủ (sau đây được gọi tắt là Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ) và sau này là Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (sau đây được gọi tắt là Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 của Chính phủ)…Để làm rõ thêm nguyên nhân của sự thay đổi nêu trên, trong phạm vi bài viết này của tác giả sẽ phân tích một số vấn đề có liên quan đến công chứng và chứng thực.

Nguồn trích: Tạp chí Nghề luật - 2022 - no.6 - tr.53-59 - ISSN.1859-3631

10. Hoàn thiện pháp luật về vai trò và hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên / Nguyễn Thị Lan Hương; Lê Thị Trang

Tóm tắt: Tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên không chỉ đem lại nhiều lợi ích cho hoạt động công chứng mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với hoạt động này. Trước sự phát triển về quy mô, tính chất xã hội hóa hoạt động công chúng, việc thành lập tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên là xu thế tất yếu nhằm hỗ trợ lẫn nhau trong công việc, xây dựng hoạt động công chứng ngày càng chuyên nghiệp, hiện đại. Tuy nhiên, trên thực tế vai trò và hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên chưa được đánh giá cao. Bài viết tập trung làm rõ một số vai trò của tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên trong hoạt động công chứng, đề xuất hoàn thiện pháp luật nhằm khẳng định vai trò và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội nghề nghiệp của công chứng viên.

Nguồn trích: Tạp chí Nghề luật - 2022 - no.6 - tr.86-90 - ISSN.1859-3631

11. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy tắc đạo đức hành nghề công chứng / Đặng Văn Dinh; Võ Xuân Cường

Tóm tắt: Hoạt động công chứng nhằm bảo đảm tính an toàn pháp lý, ngăn ngừa tranh chấp, giảm thiểu rủi ro cho các hợp đồng, giao dịch, qua đó bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Trong thời gian qua, nhiều quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động công chứng được sửa đổi, bổ sung, để phù hợp với các quan hệ xã hội mới phát sinh và khắc phục những bất cập trong hoạt động công chứng. Nhằm đảm bảo cho hoạt động công chứng ổn định và phát triển, bên cạnh việc hoàn thiện quy định của pháp luật, việc hoàn thiện hơn quy định về “Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng” cũng là vấn đề đặt ra cần được quan tâm để giúp cho hoạt động công chứng có môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Nguồn trích: Tạp chí Nghề luật - 2022 - no.6 - tr.82-85 - ISSN.1859-3631

12. Văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng / Hoàng Mạnh Thắng

Tóm tắt: Luật Công chứng (LCC) năm 2014 quy định về chức năng, nhiệm vụ của Công chứng viên (CCV) còn chưa rõ ràng, khoa học. Vấn đề này gây ra những khó khăn nhất định trong quá trình thực thi nhiệm vụ của CCV, tạo ra những nhận thức sai lệch của các chủ thể khác về vai trò, chức năng của CCV và giá trị của văn bản công chứng (VBCC). CCV có nhiệm vụ kiểm tra, làm chứng cho những thỏa thuận dân sự để đảm bảo sự an toàn và hợp pháp cho các bên tham gia giao dịch. Nếu giao dịch không được công chứng, tức là bỏ qua vai trò của người “làm chứng” chuyên nghiệp có thể dẫn đến giao dịch mất đi tính xác thực và hợp pháp, không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia khi có tranh chấp xảy ra. Hiện tượng lừa đảo, kiện tụng, vi phạm pháp luật trong các giao dịch trong xã hội đang có nguy cơ tăng lên, gây những bất ổn trong xã hội và trong thị trường bất động sản. Mặt khác, cho rằng CCV như “ thẩm phán phòng ngừa” để bảo vệ an ninh, an toàn cho giao dịch, cũng là chưa hoàn toàn chuẩn xác về vị trí, vai trò và chức năng của CCV, mà cần nhìn nhận ở những phương diện và giá trị pháp lý mà CCV thông qua việc hành nghề mang lại cho những hợp đồng, giao dịch.

Nguồn trích: Tạp chí Nghề luật - 2022 - no.6 - tr.68-75 - ISSN.1859-3631

13. Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Công chứng về đào tạo nghề công chứng / Trần Minh Tiến

Tóm tắt: Luật Công chứng (sửa đổi) được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 20/6/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Luật Công chứng sau nhiều năm triển khai thực hiện, đạt nhiều kết quả cụ thể nhất là trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa công chứng của Đảng và Nhà nước. Trong Luật công chứng, có những quy đinh quan trọng điều chỉnh hoạt động đào tạo nghề công chứng. Thời gian qua cho thấy, việc triển khai Luật Công chứng, Chương trình đào tạo nghề công chứng đã cho thấy một số hạn chế, bất cập từ quy định pháp luật trong việc tạo dựng nguồn nhân lực công chứng viên. Chính sách, yêu cầu của Đảng và Nhà nước về phát triển đội ngũ nguồn nhân lực công chứng và về hoạt động công chứng trong những năm tới đây có nhiều thay đổi. Vì vậy, đã đến lúc cần phải sửa đổi, bổ sung quy định về đào tạo nghề công chứng trong  Luật Công chứng cho phù hợp.

Nguồn trích: Tạp chí Nghề luật - 2022 - no.6 - tr.15-20 - ISSN.1859-3631

14. Một số nội dung cần sửa đổi trong quy định của pháp luật công chứng, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về công chứng / Nguyễn Xuân Bang

Tóm tắt: Luật Công chứng (LCC) được Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 20/6/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Qua hơn sáu năm thực hiện đã bộc lộ những hạn chế trong quản lý nhà nước về công chứng. Chính vì vậy, việc xác định chính xác những điểm hạn chế này, đánh giá đúng nguyên nhân để từ đó hoàn thiện các quy định về quản lý nhà nước về công chứng là rất cần thiết.

Nguồn trích: Tạp chí Nghề luật - 2022 - no.6 - tr.43-52 - ISSN.1859-3631

15.Vấn đề bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng, trách nhiệm của công chứng viên theo quy định hiện hành và hướng hoàn thiện pháp luật / Vũ Thế Quyết

Tóm tắt: Hoạt động công chứng là một hoạt động đặc thù, trong quá trình thực hiện công việc của mình, Công chứng viên (CCV) có thể gây thiệt hại và vấn đề bồi thường được đặt ra. Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định khá rõ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do CCV gây ra nhằm mục đích bảo đảm quyền và lợi ích của người yêu cầu công chứng, tổ chức, cá nhân khác bị xâm phạm bởi hành vi công chứng của CCV. Ngoài ra, các quy định này còn nhằm mục đích để CCV ý thức được trách nhiệm nghề nghiệp của mình, tránh tình trạng lạm quyền để công chứng sai, không đúng sự thật ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích cơ sở pháp lý giải quyết bồi thường thiệt hại (BTTH) và điều kiện để phát sinh trách nhiệm BTTH do CCV gây ra; chỉ ra những điểm bất hợp lý của cơ chế bồi thường thiệt hại trong hoạt động công chứng theo Luật Công chứng (LCC) năm 2014, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về bồi thường trong hoạt động công chứng hiện nay

Nguồn trích: Tạp chí Nghề luật - 2022 - no.6 - tr.76-81 - ISSN.1859-3631

16. Đánh giá chung về kết quả thực hiện Luật Công chứng năm 2014 và định hướng xây dựng Luật Công chứng sửa đổi / Lê Xuân Hồng; Vũ Thị Lý

Tóm tắt: Luật Công chứng đã được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 20/6/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 (Luật Công chứng năm 2014). Sau hơn năm triển khai thực hiện, Luật Công Chứng năm 2014 đã đi vào cuộc sống, tiếp tục đóng góp tích cực vào việc thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng; đảm báo tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch nói riêng và kinh doanh, thương mại nói chung. Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn thi hành Luật Công chứng năm 2014 cũng gặp những khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục nghiên cứu, trao đổi, hoàn thiện. Bài viết đánh giá tổng quan về kết quả thực hiện Luật Công chứng năm 2014 và đề xuất định hướng xây dựng Luật Công chứng sửa đổi.

Nguồn trích: Tạp chí Nghề luật - 2022 - no.6 - tr.3-6 - ISSN.1859-3631