1. Quyền sở hữu đối với sáng chế do người lao động tạo ra theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và kinh nghiệm từ nước ngoài/ Nguyễn Trọng Luân

Tóm tắt: Phần lớn các sáng chế trong doanh nghiệp được tạo ra bởi người lao động. Câu hỏi được đặt ra là trong trường hợp nào sáng chế được tạo ra bởi người lao động sẽ thuộc về người sử dụng lao động và trường hợp nào sẽ thuộc về người lao động Quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và 2019) về vấn đề này vẫn còn nhiều điểm bất cập cần thiết phải được sửa đổi. Trên cơ sở nghiên cứu pháp luật của một số nước phát triển như Pháp, Đức, Anh và Hoa Kỳ, bài viết đưa ra những kinh nghiệm cho pháp luật Việt Nam để hoàn thiện quy định này.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Pháp lý/ 2020, Số 3, Tr.50-57

2. Hiệu lực bảo hộ độc quyền sáng chế và động lực sáng tạo/ Nguyễn Hữu Cẩn

Tóm tắt: Hiệu lực bảo hộ độc quyền sáng chế (SC) nói riêng và sở hữu trí tuệ (SHTT) nói chung có mối quan hệ mật thiết với động lực sáng tạo (ĐLST). Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một khi ĐLST được thúc đẩy mạnh mẽ, các tài sản trí tuệ được sáng tạo ra dồi dào sẽ trở thành nguồn lực quý giá vô hạn của mỗi quốc gia...

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2018, Số 4A

3. Bảo hộ sáng chế về công nghệ chuỗi khối tại Việt Nam/ Vũ Thị Hồng Yến, Vũ Ngọc Dương

Tóm tắt: Trong những năm gần đây, công nghệ chuỗi khối (blockchain) đang trở thành trào lưu “nóng” trên toàn thế giới và ở Việt Nam. Công nghệ này có các ứng dụng to lớn tiềm năng ở nhiều ngành công nghiệp khác nhau, từ các dịch vụ tài chính, sản xuất, khu vực công đến các chuỗi cung ứng, giáo dục và năng lượng. Theo các nhà nghiên cứu, các doanh nghiệp ở các thị trường mới nổi như Việt Nam được kỳ vọng đạt doanh số 1 nghìn tỷ USD1. Bài viết giới thiệu tổng quan về sáng chế, xu hướng bảo hộ và các lĩnh vực sáng chế liên quan đến công nghệ chuỗi khối đối với cả chủ đơn trong và ngoài nước, đồng thời xem xét khả năng bảo hộ của loại sáng chế này trong tương lai.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học & công nghệ Việt Nam/ 2021, Số 06A, Tr.16-20

4. Hai bằng độc quyền sáng chế: Sản phẩm từ nghiên cứu, đánh giá các bài thuốc dân gian vùng Tây Bắc/ Hoài Hương

Tóm tắt: Mới đây, Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã cấp hai bằng độc quyền sáng chế cho Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHKHTN), Đại học Quốc gia Hà Nội. Đây là sản phẩm của đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu đánh giá và phát triển một số bài thuốc dân gian có tác dụng điều trị bệnh gan, mật của các dân tộc vùng Tây Bắc”, mã số KHCN-TB/13-18, thuộc Chương trình KH&CN phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Bắc. Kết quả này vừa góp phần bảo tồn, phát huy tri thức y học dân gian bản địa, vừa góp phần thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu của đề tài.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam/ 2022, Số 1+2A, Tr.58 - 60

5. Bảo hộ sáng chế về công nghệ xanh tại Việt Nam/ Vũ Ngọc Dương

Tóm tắt: Bài viết cung cấp một số điểm nổi bật về thực trạng phát triển của công nghệ xanh tại Việt Nam, toàn cảnh việc bảo hộ sáng chế công nghệ xanh trong những năm gần đây cùng xu hướng nộp đơn đăng ký sáng chế trong một số lĩnh vực cụ thể của công nghệ xanh tại Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam/ 2021, Số 07A, Tr.32 - 35

6. Hạn chế quyền của chủ sở hữu sáng chế - nghiên cứu so sánh pháp luật Việt Nam và Pháp/ Nguyễn Trọng Luận, Nguyễn Thị Ngọc Uyên

Tóm tắt: Về nguyên tắc, chủ sở hữu sáng chế có độc quyền trong việc sử dụng, khai thác sáng chế. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, chủ sở hữu sáng chế không có quyền ngăn cấm người khác sử dụng, khai thác sáng chế mà mình đang nắm giữ. Những trường hợp này được gọi là "giới hạn quyền" (hay "hạn chế quyền") của chủ sở hữu sáng chế và được quy định tại khoản 2 Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Những trường hợp hạn chế quyền của chủ sở hữu sáng chế theo quy định của pháp luật Việt Nam nhìn chung phù hợp với pháp luật quốc tế. Mặc dù vậy, một số quy định vẫn còn tồn tại bất cập, thiếu sót. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích những trường hợp hạn chế quyền của chủ sở hữu sáng chế theo quy định của luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành, đồng thời chỉ ra những bất cập và đề xuất hướng hoàn thiện trên cơ sở nghiên cứu so sánh với pháp luật sở hữu trí tuệ của Cộng hòa Pháp.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam/ 2019, Số 06, Tr.37-47

7. Chính sách cho cơ chế tiếp cận và nghĩa vụ chia sẻ bằng sáng chế vaccine phòng Covid-19/ Nguyễn Thái Cường

Tóm tắt: Trước bối cảnh đại dịch Covid-19 đang hoành hành, việc nắm rõ những quy định của pháp luật quốc tế sẽ giúp Việt Nam có thể thương lượng tốt trên trường quốc tế để nắm lấy những cơ hội thông qua việc hoạch định những chính sách cụ thể nhằm tiếp cận đến nguồn Vaccine. Trong đó, việc xác định mối liên hệ phối hợp giữa cơ quan chủ quản là Bộ Y tế với các cơ quan trực thuộc là Cục y tế dự phòng, cơ quan kiểm soát bệnh tật CDC ở các địa phương cùng với việc đẩy mạnh việc chế tạo Vaccine phòng Covid-19 để có thể thực hiện tiêm chủng mở rộng là một điều cần thiết. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích các cơ chế tiếp cận Vaccine điều trị Covid-19, những khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ đối với bằng sáng chế Vaccine và đề xuất chính sách tiếp cận Vaccine một cách hiệu quả nhất.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp/ 2021, Số 13, Tr.41 - 46

8. Pháp luật về khai thác thương mại đối với sáng chế của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế/ Lê Đức Hiền

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, việc cải tiến, đổi mới cũng như khai thác thương mại đối với sáng chế cần phải được hoạt động hiệu quả hơn. Thông qua bài viết này, trên cơ sở phân tích quy định của pháp luật Việt Nam về khai thác thương mại đối với sáng chế và thực tiễn áp dụng, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác thương mại đối với sáng chế của doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới. Pháp luật về khai thác thương mại đối với sáng chế của doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Nguồn trích: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật/ 2021, Số 5, Tr.25-29

9. Chất lượng sáng chế được bảo hộ từ góc nhìn thương mại hóa và một số khuyến nghị/ Nguyễn Hữu Cẩn

Tóm tắt: Trong một vài thập kỷ gần đây, việc nâng cao chất lượng của hệ thống sở hữu trí tuệ (SHTT) được coi là một trong những mục tiêu đặc biệt quan trọng trong chiến lược về SHTT của nhiều quốc gia, khu vực, trong đó có Việt Nam. Một trong những thước đo cơ bản cho chất lượng của hệ thống nêu trên là chất lượng sáng chế (SC) được bảo hộ. Bài viết khái quát một số cơ sở lý luận về chất lượng SC được bảo hộ, cách thức đánh giá và áp dụng trong trường hợp ngành công nghiệp dược phẩm ở Việt Nam, từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng SC được bảo hộ trong thời gian tới.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2020, Số 3A

10. Chính sách cho cơ chế tiếp cận và nghĩa vụ chia sẻ bằng sáng chế vaccine phòng Covid-19/ Nguyễn Thái Cường

Tóm tắt: Trước bối cảnh đại dịch Covid-19 đang hoành hành, việc nắm rõ những quy định của pháp luật quốc tế sẽ giúp Việt Nam có thể thương lượng tốt trên trường quốc tế để nắm lấy những cơ hội thông qua việc hoạch định những chính sách cụ thể nhằm tiếp cận đến nguồn Vaccine. Trong đó, việc xác định mối liên hệ phối hợp giữa cơ quan chủ quản là Bộ Y tế với các cơ quan trực thuộc là Cục y tế dự phòng, cơ quan kiểm soát bệnh tật CDC ở các địa phương cùng với việc đẩy mạnh việc chế tạo Vaccine phòng Covid-19 để có thể thực hiện tiêm chủng mở rộng là một điều cần thiết. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích các cơ chế tiếp cận Vaccine điều trị Covid-19, những khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ đối với bằng sáng chế Vaccine và đề xuất chính sách tiếp cận Vaccine một cách hiệu quả nhất.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp/ 2021, Số 13, Tr.41 - 46

11. Cân bằng quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm và vấn đề sức khỏe cộng đồng - Giải pháp cho Việt Nam = Balancing the intellectual property right to pharmaceutical inventions and the issue of community health - solutions for Vietnam/ Lê Thị Bích Thuỷ

Tóm tắt: Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, việc cân bằng quyền của chủ sở hữu sáng chế dược phẩm với quyền tiếp cận thuốc của người dân để bảo vệ sức khỏe là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong suốt lịch sử đàm phán trên phạm vi quốc tế cũng như quốc gia. Bài viết khái quát mối quan hệ giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế dược phẩm với vấn đề sức khoẻ cộng đồng; đưa ra bức tranh tổng quan về cuộc tranh luận giữa nâng cao bảo hộ đối với sáng chế dược phẩm hay hạn chế để tăng khả năng tiếp cận thuốc của cộng đồng;chỉ ra những yêu cầu, thách thức và đề xuất giải pháp cho pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam để đạt được sự cân bằng trong vấn đề này.

Nguồn trích: Tạp chí Luật học/ 2019, Số 7

12. Sản xuất vaccine: Cần nhiều hơn một bằng sáng chế/ Hạ Nhiên

Tóm tắt: Sản xuất vaccine - đặc biệt là những vaccine phức tạp về mặt công nghệ (như RNA thông tin - mRNA) chống lại COVID-19 không chỉ đòi hỏi bằng sáng chế mà cần toàn bộ cơ sở hạ tầng không thể chuyển giao trong một sớm một chiều. Việc chia sẻ các bằng sáng chế là một bước phát triển quan trọng và đáng hoan nghênh trong dài hạn, nhưng nó thậm chí có thế không phải là bước đầu tiên cấp bách nhất.

Nguồn trích: Tạp chí Tia sáng/ 2021, Số 12, Tr.22-25

13. Khai thác sáng chế: Góc nhìn từ ngành dược phẩm Ấn Độ/ Phùng Minh Hải

Tóm tắt: Bài viết giới thiệu kinh nghiệm của Ấn Độ trong việc khai thác sáng chế, thông tin sáng chế phục vụ cho phát triển. Đây cũng là một cách làm mà Việt Nam có thể học hỏi để phát triển hệ thống sáng chế nhằm phục vụ mục tiêu đổi mới sáng tạo mà Chính phủ đã giao cho Bộ Khoa học và Công nghệ.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2020, Số 3A

14. Patent Pool - Mô hình liên kết thương mại hóa sáng chế/ Phùng Minh Hải

Tóm tắt: Bài viết giới thiệu mô hình Patent Pool, một mô hình liên kết thương mại hóa sáng chế đã và đang được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ, châu Âu...). Theo tác giả, đây là một mô hình liên kết hợp tác thương mại hóa sáng chế mà Việt Nam có thể áp dụng trong thời gian tới.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2019, Số 10A

15. Giải pháp gia tăng hoạt động đăng ký sáng chế tại các viện nghiên cứu, trường đại học/ Phùng Minh Hải

Tóm tắt: Bài viết đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân, khó khăn dẫn đến hạn chế số lượng đơn đăng ký sáng chế của các viện nghiên cứu, trường đại học ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy gia tăng số lượng đơn đăng ký sáng chế tại các cơ sở này trong thời gian tới.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2018, Số 11A 

16. Chế tạo thành công thiết bị laze ứng dụng trong LIDAR đo nồng độ khí ô zôn dựa trên sáng chế được bảo hộ/ Nguyễn Văn Mạnh

Tóm tắt: Trong khuôn khổ Chương trình phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2016-2020, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt thực hiện dự án “Áp dụng sáng chế máy phát laze màu phản hồi phân bố dập tắt theo văn bằng bảo hộ số 10311 ngày 23/5/2012 ứng dụng trong nghiên cứu khoa học, đời sống và kiểm soát ô nhiễm”. Kết quả thực hiện dự án không chỉ góp phần hiện thực hóa thành công một sáng chế trở thành một sản phẩm có khả năng xác định nồng độ khí ôzôn trong môi trường, mà còn thúc đẩy việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu, sáng chế, giải pháp hữu ích vào thực tiễn đời sống, phục vụ lợi ích dân sinh.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2018, Số 12A, Tr.36-37

17. Cần những giải pháp đồng bộ để thúc đẩy khai thác, thương mại hóa sáng chế/ Nguyễn Hữu Xuyên

Tóm tắt: Sáng chế được khai thác và thương mại hiệu quả sẽ mang lại giá trị gia tăng cao cho doanh nghiệp, đồng thời kích thích và tạo động lực cho nền kinh tế phát triển. Hiện nay, sáng chế đã trở thành một loại tài sản vô hình có giá trị cao, là công cụ để doanh nghiệp nâng cao vị thế cạnh tranh của mình. Tuy nhiên, hoạt động khai thác, thương mại hóa sáng chế của Việt Nam trong thời gian qua còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được kỳ vọng của cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ (KH&CN), các doanh nghiệp, nhà sáng chế và nhà đầu tư. Kết quả phân tích những thuận lợi, khó khăn trong việc khai thác, thương mại hóa sáng chế ở nước ta cho thấy, để thúc đẩy hoạt động này trong thời gian tới cần phải có những giải pháp đồng bộ.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2018, Số 9A

18. Đưa sáng chế số 7430 vào phục vụ thực tiễn sản xuất và đời sống/ Hoàng Quốc Tuấn

Tóm tắt: Trong những năm qua, một số công nghệ xử lý nước rỉ rác đã được nghiên cứu, ứng dụng, như kết hợp nước rỉ rác với nước thải sinh hoạt, quay vòng nước rỉ rác, xử lý hóa lý hay xử lý bằng các hồ sinh học… Gần đây cũng có nhiều công nghệ xử lý nước rỉ rác đắt tiền được nhập khẩu từ nước ngoài, song chưa được triển khai hoặc phải ngừng hoạt động do công nghệ không phù hợp với đặc tính nước rỉ rác ở Việt Nam. Do vậy, hầu hết nước rỉ rác tại bãi chôn lấp đều thải trực tiếp vào môi trường, khuếch tán mầm bệnh gây tác động xấu đến môi trường và sức khỏe con người. Chính vì vậy, việc tìm kiếm công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, phù hợp với điều kiện Việt Nam, có chi phí xử lý hợp lý là rất cần thiết. Trước thực tế đó, Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội) đã đề xuất và được Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phê duyệt triển khai dự án “Áp dụng sáng chế số 7430 để xây dựng hệ thống xử lý nước rỉ rác từ bãi chôn lấp rác thải quy mô cấp huyện”. Dự án là tiền đề quan trọng góp phần xóa bỏ các tụ điểm ô nhiễm môi trường cấp bách hiện nay trên cả nước liên quan đến các bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam/ 2019, Số 11A

19. Huy động nguồn lực từ các “nhà sáng chế không chuyên”/ Chu Thúc Đạt

Tóm tắt: Hiện nay, ngoài đội ngũ các nhà khoa học chuyên nghiệp, chúng ta còn có một lực lượng không nhỏ các “nhà sáng chế không chuyên”. Họ là những người nông dân thuần túy, thợ thủ công…, và không ít sáng chế, sáng kiến của họ được ứng dụng vào thực tiễn đã đem lại lợi ích rất lớn phục vụ đời sống và sản xuất. Để phát huy nguồn lực này, trong thời gian tới cần có những giải pháp đồng bộ về cơ chế, chính sách…

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam/ 2022, Số 1+2A, Tr.40 - 42