1. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số giai đoạn 2011-2020, những đề xuất cho giai đoạn 2021-2030 = Preserve and promote the cultural values of ethnic minorities in the period 2011-2020, recommendations for the period 2021-2030/ Trịnh Thị Thủy

Tóm tắt: Với quan điểm nhất quán, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: “Văn hóa các dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất, đa dạng”. Trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước luôn có những chủ trương, chính sách phù hợp, nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số. Sự nhất quán trong nhận thức và triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đã góp phần quan trọng trong phát triển đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số. Bên cạnh những kết quả đạt được, trong giai đoạn 2011 – 2020, công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số cũng đang đặt ra một số vấn đề cần được quan tâm và giải quyết kịp thời trong giai đoạn 2021-2030.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc/ 2021, Số 1, Tr.13-18

 2. Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam ở tỉnh An Giang hiện nay/ Nguyễn Thị Minh Hải

Tóm tắt: Giá trị truyên thông dân tộc là một động lực nội sinh to lớn, một nền tảng vững chắc đê dân tộc tồn tại và phát triển. Việc bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc trên cơ sở tiếp thu, kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại đang trở thành yêu cầu cấp thiết, một vấn đề có tính quy luật trong quá trình tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam nói chung và từng địa phương nói riêng. Bài viết phân tích thực trạng của việc bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam ở tỉnh An Giang hiện nay thông qua kết quả điều tra xã hội học của tác giả.

Nguồn trích: Tạp chí Giáo dục Lý luận/ 2021, Số 321, Tr.73-78

3. Quan điểm bảo tồn, phát huy âm nhạc truyền thống dân tộc sau đề cương văn hóa Việt Nam 1943/ Nguyễn Đình Lâm

Tóm tắt: Việt Nam là một quốc gia có nền văn hóa âm nhạc phát triển lâu đời, thể hiện sự phong phú, đa dạng và độc đáo. Sự phát triển của nền âm nhạc Việt Nam hiện nay là sự sáng tạo, nối tiếp không ngừng của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ những người làm về văn hóa, nghệ thuật âm nhạc. Sau Đề cương Văn hóa Việt Nam năm 1943 (từ đây gọi tắt là Đề cương), âm nhạc truyền thống Việt Nam nói riêng, tinh hoa văn hóa Việt Nam nói chung được phát huy một cách toàn diện, đáp ứng yêu cầu giai đoạn mới. Nghiên cứu âm nhạc truyền thống nói riêng, các giai đoạn của nền âm nhạc Việt Nam nói chung, từ sau Đề cương, là góp phần bảo tồn và quảng bá những khía cạnh đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam. Bài viết này khái quát những vấn đề liên quan.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa và Nguồn lực/ 2021, Số 2, Tr.19-25

4. Vai trò Hồi giáo trong việc giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống của người Chăm Nam Bộ - tiếp cận từ chiều kích hôn nhân khác tôn giáo = The role of islam in preserving and spreading cham People’s traditional culture in the south of vietnam - Approaching from interfaith marriage/ Phan Thanh Lời, Vũ Xuân Ngọc Ánh

Tóm tắt: Hôn nhân khác tôn giáo nơi người Chăm Islam ngày càng trở nên phô biển và gần như không có ngoại lệ trong việc ai muốn kết hôn với người Chăm Islam dù nam hay nữ đều phải chấp nhận cải đạo theo Hồi giáo mới được kết hôn. Cha mẹ của đôi nam nữ khác tôn giáo có lời ứng xử khác nhau: (i) Cha mẹ phía tôn giáo khác đã phản đối kịch liệt việc con cái của họ theo Hồi giáo bởi khả năng họ “mất con, mất cháu ” rất lớn vì khi về sống bên phía người Chăm Islam phải từ bỏ phong tục truyền thống của gia đình như thờ cúng tổ tiên, không để tang người chết kể cả cha mẹ ruột... Sự phản đối đã vô tình đẩy con cái của họ ngày càng xa rời gia đình ruột thịt; (ii) Ngược lại, phía gia đình người Chăm Islam lại có xu hướng cảm thông và chấp nhận cuộc hôn nhân này vì họ hiểu rằng việc phản đối càng làm cho con cái dễ có khả năng phạm tội quan hệ ngoài hôn nhân (zina) vốn là một tội rất lớn theo luật Hồi giáo... Từ những phân tích đó, chúng tôi lập luận rằng Hồi giáo là nhân tố gắn kết những người con dâu, con rể thuộc các tôn giáo khác vượt qua sự dằn vặt, dần sát nhập bản thân vào lối sống mới thông qua chung sống với gia đình, dòng họ và cộng đồng người Chăm Islam. Hồi giáo với giáo luật nghiêm khắc không chỉ giúp người Chăm Islam gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa của mình trong mọi hoàn cảnh mà còn giúp họ phát huy được giá trị văn hóa ấy bằng cách lan tỏa thông qua con đường hôn nhân này.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Thủ Dầu Một)/ 2021, Số 1, Tr.24-36

5. Phát huy giá trị văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới tiếp cận qua Văn kiện Đảng/ Lê Thị Hiền

Tóm tắt: Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng luôn coi trọng lĩnh vực văn hóa. Đảng đã ban hành nhiều văn kiện để định hướng, lãnh đạo lĩnh vực đặc biệt quan trọng này. Sau 35 năm Đảng khởi xướng, lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước, sự nghiệp xây dựng, phát triển và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Nghiên cứu các quan điểm của Đảng về văn hóa trong thời kỳ đổi mới, có thể thấy sự sáng tạo, tính cách mạng, khoa học trong tư duy lý luận của Đảng trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát huy giá trị văn hóa-con người Việt Nam, từ năm 1986 đến nay. Bên cạnh đó, cần chú ý một số vấn đề đặt ra để tiếp tục xây dựng, phát triển, phát huy giá trị văn hóa - con người Việt Nam hiện đại, trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh mềm của dân tộc như Đại hội XIII của Đảng đề ra.

Nguồn trích: Tạp chí Lịch sử Đảng/ 2021, Số 4, Tr.26-32

6. Khai thông, phát huy và phát triển các nguồn lực văn hóa Việt Nam để tạo động lực và sức mạnh nội sinh cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước / Nguyễn Trọng Chuẩn

Tóm tắt: Là một động lực và sức mạnh nội sinh cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước, nguồn lực văn hóa trở thành một trong bốn bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển tổng thể của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. Với vị trí, vai trò và tầm quan trọng như vậy, việc nhận thức rõ nguồn lực văn hóa Việt Nam và phát huy nó nhằm phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là yêu cầu cấp thiết.

Nguồn trích: Tạp chí Chủ nghĩa xã hội Lý luận và Thực tiễn/ 2021, Số 4, Tr.3 - 8 

7. Phát huy nguồn lực văn hóa - sức mạnh mềm của thành phố Hồ Chí Minh = Promoting cultural resources - the soft power of Ho Chi Minh city/ Lâm Thị Thu Hiền

Tóm tắt: Để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phấn đấu đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, việc huy động sức mạnh, sức sáng tạo của mọi nguồn lực, trong đó có nguồn lực văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Với tầm nhìn đó, văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã đưa ra nhiều quan điểm mới về phát huy giá trị văn hóa. Thành phố Hồ Chí Minh cùng với vai trò đầu tàu kinh tế còn được xác định mục tiêu phát triển trở thành trung tâm văn hóa của cả nước trong “Chiến lược phát triển văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2035”. Bài viết hệ thống những nội dung khái quát về nguồn lực văn hóa, sức mạnh nội sinh - sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam, từ đó, luận bàn về một số giải pháp cụ thể chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa xứng tầm vị thế của Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (ĐH Văn Lang)/ 2021, Số 28, Tr.108-114

8. Biểu tượng nước trong đời sống văn hóa của người Thái ở Tây Bắc = The symbol of water in the cultural life of the Thai ethnic group in the northwest of Vietnam / Lê Thị Hải

Tóm tắt: Bài viết bước đầu diễn giải biểu tượng nước trong đời sống văn hóa của người Thái ở Tây Bắc từ giác độ văn hóa học. Theo đó, nước trong đời sống văn hóa người Thái được nhận diện từ các khía cạnh văn hóa, hàm chứa triết lí nhân sinh. Qua khảo cứu biểu tượng nước, chúng ta thấy được những giá trị văn hóa của người Thái trong bức tranh văn hóa đa sắc tộc người của văn hóa Việt Nam - một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng; thấy rõ một di sản quý giá trong nền văn hóa nước nhà; thấy được tâm thức văn hóa của cộng đồng dân tộc Thái trong lòng Việt Nam; cũng như nét riêng biệt trong tâm thức văn hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc: đời sống, tâm tư, khát vọng và triết lý về cuộc đời của người Thái ở Tây Bắc trên suốt chặng đường lịch sử. Bằng phương pháp nghiên cứu văn hóa học, liên ngành và điền dã, khảo sát,... người viết đã thu được một số kết quả: từ mạch ngầm của văn hóa Việt Nam, nước trong đời sống dân tộc Thái được cảm nhận như một khách thể thẩm mỹ, một biểu tượng sống động, lắng đọng bao triết lí nhân sinh về tình đời, tình người.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Trường Đại Duy Tân/ 2021, Số 44, Tr.97-103

9. Giá trị nghệ thuật chèo trong văn hóa Việt Nam = Storytelling in the ancient “cheo” stage and Vietnamese cultural value inside/ Hà Thị Hoa

Tóm tắt: Sân khấu Chèo là sân khấu kể chuyện, là sự tái hiện sự kiện theo trình tự thời gian, theo logic cuộc sống. Ở chèo gần như không có sự đảo lộn trật tự của không gian và thời gian nghệ thuật. Từ góc nhìn văn hóa, đây là sự thuận theo tự nhiên, sự tôn trọng những “quyền lực” của thiên nhiên, hơn nữa, là sự hòa đồng với tự nhiên của người Việt cổ. Truyền thống này đã ăn sâu trong tâm thức người Việt và trở thành một thứ ứng xử văn hóa riêng, truyền thống này đã tạo cho các “tác giả” dân gian một cách thể hiện độc đáo. Do đó, sân khấu kể chuyện trong Chèo cổ không chỉ đơn thuần là kiểu hay là phong cách nghệ thuật, nó còn là kết quả của văn hóa, thể hiện một giá trị văn hóa dân tộc.

Nguồn trích: Tạp chí Giáo dục Nghệ thuật/ 2021, Số 39, Tr.37-41

10. Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách văn hóa ở Việt Nam hiện nay/ Đinh Văn Hiển

Tóm tắt: Thực thi chính sách (TTCS) có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong chu trình chính sách. TTCS góp phần thực hiện mục tiêu chính sách, kiểm nghiệm chính sách trong thực tế, cung cấp luận cứ cho việc hoạch định, ban hành chính sách tiếp theo. Trên cơ sở tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả TTCS, bài viết đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả TTCS văn hóa ở Việt Nam hiện nay.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật/ 2021, Số 473, Tr.41 - 44 

11. Bảo đảm tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam hiện nay/ Đinh Thị Hương Giang

Tóm tắt: Sự thống nhất trong đa dạng là đặc trưng, đồng thời là quy luật phát triển, là tiềm năng, sức mạnh nội sinh, tính hấp dẫn của nền văn hóa Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, đặc trưng đó cùng bản sắc văn hóa dân tộc đang đối mặt với nhiều thách thức, có nguy cơ bị mai một, biến dạng. Vì thế, xử lý đúng đắn, hài hòa mối quan hệ giữa tính thống nhất và tính đa dạng của văn hóa Việt Nam là vấn đề cơ bản có ý nghĩa thực tiễn cấp bách.

Nguồn trích: Tạp chí Cộng sản/ 2021, Số 968, Tr.75-83

12. Mối quan hệ giữa trống Thạch Trại Sơn với trống đồng của văn hóa Đông Sơn = The relationship between the thach trai son drum and the bronze drums of dong son culture/ Nguyễn Văn Hảo

Tóm tắt: Cuộc tranh luận của các học giả khảo cổ học về nguồn gốc của trống đồng kéo dài từ cuối thế kỷ 19 cho đến hôm nay vẫn chưa “hạ hồi phân giải”. Câu hỏi “Dân tộc nào sáng chế ra trống đồng?”, “Trống đồng xuất phát từ miền Bắc Việt Nam hay miền Nam Trung Quốc?” vẫn đang là mối quan tâm sâu sắc, thu hút sự vào cuộc nhiệt thành của giới làm khảo cổ học Việt Nam và Trung Quốc, đặc biệt từ khi 19 chiếc trống đồng được khai quật tại khu mộ cổ ở Thạch Trại Sơn (Tấn Ninh, Vân Nam, Trung Quốc) (từ năm 1955 đến năm 1966) và được người Trung Quốc đặt tên là trống Điền hay trống loại hình Thạch Trại Sơn, cho đến hôm nay. Sau rất nhiều năm nghiên cứu, trải qua nhiều lần thực địa, qua nhiều cuộc hội thảo trong nước và quốc tế với nhiều tranh luận giữa các học giả chuyên ngành khảo cổ, tác giả bài viết đã đưa ra nhiều luận điểm để khẳng định: Trống đồng không phải do người Điền (Trung Quốc) sáng tạo ra, mà trống đồng thuộc về văn hóa Đông Sơn của người Việt. Việc xác định mối quan hệ giữa trống Thạch Trại Sơn (hay còn gọi là trống Điền của người Điền ở Vân Nam, Trung Quốc) với trống đồng của văn hóa Đông Sơn cũng là một trong những luận điểm quan trọng tiếp theo để làm sáng tỏ vấn đề nguồn gốc trống đồng.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc/ 2021, Số 1, Tr.117-121

13. Xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập/ Phạm Duy Đức

Tóm tắt: Trong mỗi một bước chuyển của dân tộc đều đòi hỏi có một hệ giá trị nhằm định hướng, đánh giá và điều chỉnh hành vi của xã hội. Xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa là nhu cầu khách quan trong quá trình thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh”.

Nguồn trích: Tạp chí Tuyên giáo/ 2021, Số 3, Tr.61-66 

14. Biểu tượng nước trong đời sống văn hóa của người Thái ở Tây Bắc/ Lê Thị Hải

Tóm tắt: Bài viết bước đầu diễn giải biểu tượng nước trong đời sống văn hóa của người Thái ở Tây Bắc từ giác độ văn hóa học. Theo đó, nước trong đời sống văn hóa người Thái được nhận diện từ các khía cạnh văn hóa, hàm chứa triết lí nhân sinh. Qua khảo cứu biểu tượng nước, chúng ta thấy được những giá trị văn hóa của người Thái trong bức tranh văn hóa đa sắc tộc người của văn hóa Việt Nam - một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng; thấy rõ một di sản quý giá trong nền văn hóa nước nhà; thấy được tâm thức văn hóa của cộng đồng dân tộc Thái trong lòng Việt Nam; cũng như nét riêng biệt trong tâm thức văn hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc: đời sống, tâm tư, khát vọng và triết lý về cuộc đời của người Thái ở Tây Bắc trên suốt chặng đường lịch sử. Bằng phương pháp nghiên cứu văn hóa học, liên ngành và điền dã, khảo sát,... người viết đã thu được một số kết quả: từ mạch ngầm của văn hóa Việt Nam, nước trong đời sống dân tộc Thái được cảm nhận như một khách thể thẩm mỹ, một biểu tượng sống động, lắng đọng bao triết lí nhân sinh về tình đời, tình người.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Duy Tân/ 2021, Số 44, Tr.97-103