1. Giải pháp an ninh mạng và bảo mật thông tin tại các trường Đại học Việt Nam trong kỷ nguyên thông tin = Network security solutions and information security at Vietnam universities in the digital age/ Bui Van Nam, Nguyen Phu Quang

Tóm tắt: Với sự phát triển của công nghệ thông tin trong các trường đại học tại Việt Nam hiện nay, mạng lưới thông tin tại khuôn viên trường ngày càng có vai trò quan trọng hơn, và dần trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng cho việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học, quản lý nhân sự, tài chính và hợp tác quốc tế tại các trường Đại học. Tuy nhiên, còn tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro bị tấn công không gian mạng. Vì vậy việc đảm bảo an ninh mạng và bảo mật thông tin cơ sở dữ liệu đã trở thành vấn đề quan trọng nhất trong việc xây dựng và phát triển đại học. Trong bài viết này, tác giả trình bày các vấn đề tồn tại trong vấn đề an ninh và bảo mật thông tin tại các trường Đại học Việt Nam và đề xuất các các biện pháp cho vấn đề an ninh mạng và thông tin trong kỷ nguyên thông tin hiện nay.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Thủ Đô)/ 2021, Số 53, Tr.5 - 10

1. Trí tuệ nhân tạo trong giáo dục: Cơ hội và thách thức đến tương lai của việc dạy và học ở trường đại học/Đinh Thị Mỹ Hạnh, Trần Văn Hưng.

Tóm tắt: Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) đang bùng nổ và có khả năng làm thay đổi mọi mặt trong đời sống nhân loại. Trong giáo dục, AI đang tạo ra những phương pháp dạy và học mới đang được thử nghiệm trong những điều kiện và ở nhiều quốc gia với trình độ phát triển khác nhau và đạt những mức độ thành công khác nhau. Bài báo này tập trung phân tích cơ hội, thách thức và những tác động trong tương lai của AI đối với việc dạy và học ở các trường đại học thế giới nói chung. (1) Bài báo phân tích những thay đổi tích cực mà AI đem lại cho giáo dục. (2) Những thách thức, khó khăn khi ứng dụng AI vào giáo dục đại học cũng như đề xuất một số giải pháp chủ yếu để khắc phục những khó khăn đó.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ (Đại học Đà Nẵng) - 2021 - no.2 - tr.38-42. ISSN.1859-1531.

1. Đặc điểm của văn tế Hán Nôm Bình Định = Characteristics of Han Nom Binh Dinh literature/ Võ Minh Hải, Nguyễn Thị Bé

Tóm tắt: Từ thực tế điền dã, sưu tầm văn tế Hán Nôm trên địa bàn tỉnh Bình Định, nhóm tác giả bước đầu nghiên cứu tổng quan về một thể loại khá đặc biệt trong văn học Hán Nôm Bình Định. Thông qua nội dung đã tìm hiểu được, bài viết hướng đến việc khẳng định những đặc điểm nổi bật của văn tế Hán Nôm Bình Định. Với tư cách là một thể loại văn học gắn liền với chức năng nghi lễ, văn tế Hán Nôm Bình Định đã mang lại những giá trị văn hóa mới, góp phần vào tiến trình phát triển của văn học Bình Định.

Nguồn trích: Tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội/ 2020, Số 9, Tr.45-52

 

1. Vai trò của báo chí - truyền thông trong việc tạo lập và định hướng dư luận xã hội ở Việt Nam hiện nay/ Đỗ Hải Hoàn

Tóm tắt: Truyền thông và dư luận xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Truyền thông phản ánh và lan truyền dư luận xã hội, ngược lại dư luận xã hội vừa là đối tượng, vừa là đối tác của truyền thông. Bài viết này phân tích vai trò của báo chí - truyền thông đối với dư luận xã hội và thông qua các trường hợp thực tiễn hiện nay để làm rõ mối quan hệ đó.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Duy Tân/ 2021, Số 48, Tr.155-163

 

1. Một số giải pháp nâng cao kỹ năng lập trình cho sinh viên công nghệ thông tin, trường Đại học An Giang/ Thiều Thanh Quang Phú, Nguyễn Minh Vi

Tóm tắt: Cách mạng công nghiệp 4.0 bùng nổ trên toàn cầu và phát triển dựa trên nền tảng kết hợp nhiều công nghệ, trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò chủ chốt. Các sinh viên ngành Công nghệ thông tin hôm nay sẽ là nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao trong những năm tới, là lực lượng đi đầu trong việc tiếp cận, ứng dụng, và sáng tạo công nghệ. Bài viết phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển kỹ năng lập trình, một kỹ năng nghề nghiệp quan trọng đối với sinh viên ngành Công nghệ thông tin, Trường Đại học An Giang - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao các kỹ năng cần thiết, đặc biệt là kỹ năng lập trình cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng mục tiêu đào tạo của Trường Đại học An Giang - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

Nguồn trích: Tạp chí Giáo dục/ 2020, Số 473, Tr.40-44

1.Phương thức biểu thị ý nghĩa của từ chỉ tên gọi thực vật trong tiếng Ê Đê (So sánh với tiếng Việt) = The methods of meaning presentment of words referring to plant names in Ede language (in comparison to Vietnamese)/ Võ Tuấn Vũ

Tóm tắt: Các sự vật, hiện tượng tồn tại xung quanh con người phải có tên gọi. Tên gọi giúp con người phân biệt sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác; đồng thời thể hiện khả năng định hướng thế giới xung quanh đang tồn tại trong cuộc sống của chúng ta. Tham luận này tập trung phân tích một số đặc điểm biểu thị nghĩa trong cách gọi tên thực vật của người Ê Đê so sánh với cách gọi trong tiếng Việt.

Nguồn trích: Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư/ 2020, Số 04, Tr.31 - 36

1. Thực trạng, giải pháp bảo vệ môi trường tại các cụm công nghiệp/ Hoàng Văn Vy

Tóm tắt: Theo Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, cụm công nghiệp (CCN) được gọi chung là khu công nghiệp do có cùng đặc điểm là những khu vực sản xuất tập trung của nhiều cơ sở hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Tuy nhiên, do việc hình thành các CCN không theo quy hoạch, chủ yếu là khu vực để các địa phương di dời những cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường, hoặc cấp phép hoạt động cho loại hình doanh nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm tại địa phương. Vì vậy, các CCN được thành lập hầu hết có quy mô nhỏ (từ vài ha đến vài chục ha), chỉ nằm trong phạm vi quản lý của địa phương; không phải là những khu sản xuất tập trung (khu công nghiệp) được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, nên việc quy hoạch bảo vệ môi trường (BVMT) và chủ thể quản lý ở mỗi địa phương đối với các CCN cũng rất khác nhau. Quy mô sản xuất của các dự án đầu tư trong CCN đa số là nhỏ và vừa, hoặc chỉ tương đương quy mô hộ gia đình; cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật giao thông và BVMT tại các CCN còn hạn chế. Mặc dù vậy, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của các CCN trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm của nhiều địa phương trong thời gian qua. Tuy nhiên, đằng sau đó là những nỗi lo về công tác BVMT tại CCN.

Nguồn trích: Tạp chí Môi trường/ 2021, Số 3, Tr.15-16

1. Mô hình kinh tế tuần hoàn với phát triển nền kinh tế xanh ở Việt Nam/ Phạm Tuyên

Tóm tắt: Xây dựng kinh tế tuần hoàn được Đại hội XIII của Đảng xác định là một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 nhằm đạt các mục tiêu phát triển bền vững bảo vệ môi trường ứng phó với biến đổi khí hậu trên quy mô lớn trong 10 năm tới. Bài viết khái quát một số mô hình, triển vọng và giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Lý luận Chính trị/ 2021, Số 09, Tr.99 - 103

1. Thi pháp học thời kì đổi mới: Từ lý thuyết đến ứng dụng = Poetics innovation period: from theory to application/ Nguyễn Văn Tùng

Tóm tắt: Thi pháp học là một ngành nghiên cứu văn học có nhiều điểm ưu việt, đã từng phát triển ở nhiều nước trên thế giới từ đầu thế kỉ XX. Tuy nhiên, ở Việt Nam đến thời kì Đổi mới, thi pháp học mới được phát triển. Nhiều công trình nghiên cứu tiếp thu tinh hoa và phát triển lý thuyết thi pháp học đã ra đời. Những tác giả có công đầu trong việc phát triển thi pháp học phải kể đến Phan Ngọc, Nguyễn Phan Cảnh, Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Trinh, Đỗ Đức Hiểu, Trần Đình Sử, Lã Nguyên, Đỗ Lai Thuý. . . Cùng với các công trình lý thuyết, rất nhiều công trình ứng dụng thành công lý thuyết thi pháp học vào việc giải quyết các hiện tượng văn học cụ thể. Thi pháp học đã trở thành một hướng nghiên cứu nổi bật trong đời sống văn học thời kì Đổi mới ở Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Sư phạm Hà Nội)/ 2017, Số 2, Tr.3-12

1. Phát triển dịch vụ logistics cho vận tải hàng hóa hàng không tại Việt Nam/ Ngô Đức Phước

Tóm tắt: Việt Nam đang là thị trường logistics hàng không có tiềm năng và tốc độ tăng trưởng vào loại cao trên thế giới. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn đang ở dạng “tiềm năng”, thị phần tập trung chủ yếu vào các hãng hàng không quốc tế. Để logistics cho vận tải hàng không thực sự phát triển theo hướng hiện đại, bài bản, rất cần có một chiến lược đúng đắn, rõ ràng và quyết tâm biến chiến lược đó thành hành động cụ thể. Bài viết phân tích thực trạng hoạt động logistics trong vận tải hàng hóa hàng không, trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp phát triển trong thời gian tới.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Dự báo/ 2021, Số 19, Tr.41 - 43