1.Giá trị của pháp luật trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội = The law’s value in regulating social relationshipBùi Xuân Phái

Tóm tắt: Trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật ngày càng chứng tỏ giá trị quan trọng của nó, đặc biệt là trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, việc đánh giá về giá trị của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội vẫn có sự khác biệt nên cần có sự thống nhất về quan niệm giá trị của pháp luật cũng như thái độ của các nhà cầm quyền trong việc sử dụng pháp luật trong lịch sử và hiện tại. Sự thống nhất này giúp hình thành cách tiếp cận, qua đó có cơ sở để nhận diện và xây dựng được tiêu chí đánh giá phù hợp về giá trị của pháp luật, đồng thời nhờ đó để có giải pháp tốt nhất cho việc khai thác và phát huy giá trị của pháp luật trong các điều kiện phù hợp. Bài viết hướng tới việc làm rõ khái niệm giá trị của pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội cũng như các giá trị cụ thể của nó.

Nguồn trích: Tạp chí Luật học  - 2022 – no.6 – tr.3-13 – ISSN.0868-3522

1.Phát huy vai trò Phật giáo Nam tông Khmer trong ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam / Lý Hùng

Tóm tắt: Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước (HĐKSSYN) là tổ chức chính trị – xã hội đặc thù trong giới sư sãi Khmer do Đảng ta có chủ trương thành lập, hoạt động như tổ chức đoàn thể trong hệ thống chính trị. Nội dung và phương thức hoạt chủ yếu là tuyên truyền, vận động sư sãi và đồng bào Phật tử Khmer. Trong quá trình hội nhập và phát triển của đất nước, HĐKSSYN đóng một vai trò quan trọng trong các lĩnh vực đời sống xã hội của người Khmer vùng Tây Nam bộ như: đời sống tôn giáo, đời sống văn hóa, xã hội, đời sống chính trị, đời sống kinh tế, vai trò của tu sĩ Phật giáo Nam tông Khmer đối với thanh niên Khmer trong quá trình tu học,… tuy nhiên hoạt động của Hội ĐKSSYN vẫn còn nhiều mặt hạn chế, bất cập trong mô hình, cơ cấu tổ chức, cũng như trong nội dung hoạt động, vì thế việc củng cố kiện toàn và tái lập lại Hội ĐKSSYN các tỉnh, thành có đông sư sãi và đồng bào Phật tử Phật giáo hệ phái Nam tông Khmer là hoàn toàn cần thiết, phù hợp nhu cầu nguyện vọng của sư sãi và bà con phật tử; đồng thời đáp ứng yêu cầu công tác vận động quần chúng tôn giáo nói chung, công tác vận động quần chúng Phật giáo hệ phái Nam tông Khmer nói riêng.

Phật giáo Nam tông Khmer đã truyền vào cộng đồng người Khmer trên 2000 năm lịch sử. Phật giáo Nam tông Khmer Nam bộ hiện có 463 ngôi chùa Hệ phái Nam tông (Nam truyền Dakkhinànikaya) ở trên 15 tỉnh thành trong cả nước, chủ yếu là các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long phục vụ cho chư tăng và Phật tử dân tộc Khmer3.

Phật giáo giữ vai trò độc tôn trong đời sống cộng đồng của đồng bào Khmer, vai trò đó đã được biểu hiện ở chỗ mọi hoạt động trong sinh hoạt gia đình, cộng đồng phum sóc gắn với tín ngưỡng, tôn giáo dân tộc, người Khmer đều dựa vào triết lý của đạo Phật. Mọi sinh hoạt lễ hội của gia đình hoặc cộng đồng dù lúc vui hay lúc buồn, đều có mời các vị sư tham gia làm lễ, đọc kinh. Việc trang trí nhà cửa, lễ đài, chùa,… hầu hết gia đình, phum sóc vùng dân tộc Khmer đều có tranh ảnh hoặc tượng của đức Phật đặt nơi trang trọng nhất

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Phật học Online – 2021 – no.11 – ISSN.2734-9187

1. Difference in the role of public governance for enterprises performance of ownership types in Vietnam

Nguyen Minh Ha, Van Huong Le and Cuong Tran. Applied Economics: 1-14, 2022.

Free full text https://doi.org/10.1080/00036846.2022.2094331

 Abstract: This paper aims to examine the difference in role of public governance on the performance of each business ownership type in Vietnam. Using FGLS regression and Blinder ? Oaxaca decomposition methods, the study finds out gaps of enterprises performance among state-owned enterprises, non-state enterprises and FDI enterprises in Vietnam in the period 2016?2019. The variation is due to business characteristics and distinction between ownership types. Besides, the decomposition results show that public governance is a factor of the enterprises performance?s differentiation in Vietnam, and state-owned enterprises are often more favoured than FDI enterprises and non-state enterprises. Incentives for state-owned enterprises are mainly presented in policies, such as information public and transparency, reducing time-cost, reducing informal charges and local fair competition promotion. Meanwhile, incentives for FDI enterprises are mainly presented in policies, such as land policy, information public and transparency, reducing time-cost, fair competition promotion, business support services, local legal frame and security. Specifically, the study implies that improving public governance in Vietnam in the period 2016?2019 has resulted in positively effect on state-owned enterprises? performance and fairly low effect on those of FDI enterprises and non-state enterprises.

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

1. Khái quát về tình hình thực hiện Luật Công chứng năm 2014 và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động công chứng / Vũ Thị Lý

Tóm tắt: Ngày 20/6/2014, Quốc hội đã thông qua Luật Công chứng, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Sau hơn 6 năm triển khai thực hiện, Luật Công chứng năm 2014 đã đạt nhiều kết quả góp phần tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi và tin cậy cho các hoạt động đầu tư kinh doanh, thương mại; góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện Luật Công chứng đã phát sinh một số vấn đề mới chưa được Luật điều chỉnh; đồng thời một số quy định cũng đã bộc lộ hạn chế, bất cập, cần được nghiên cứu, tổng kết, đánh giá toàn diện để đề xuất, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định. Bài viết này đánh giá bước đầu về một số kết quả, hạn chế, bất cập và nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, bất cập trong tổ chức thực hiện Luật Công chứng.

Nguồn trích: Tạp chí Nghề luật - 2022 - no.1 - tr.14- 21 – ISSN.1859-3631

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ
1.Thực trạng thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp tại các trường đại học Việt Nam hiện nay = Current status of promoting innovation and entrepreneurship activities at Vietnamese universities / Hứa Thị Tường Vi; 

Tóm tắt: Đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp hiện nay đã trở thành một trào lưu trong cộng đồng và trở thành chủ đề được nhắc tới thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cùng với sự bùng nổ của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, xu hướng khởi nghiệp sáng tạo đã và đang phát triển mạnh mẽ trong đời sống của chúng ta, đặc biệt học sinh, sinh viên là lực lượng quan trọng góp phần trong phát triển kinh tế - xã hội của quê hương, đất nước. Các trường Đại học, Cao đẳng là môi trường thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của sáng tạo học sinh, sinh viên, hình thành văn hóa khởi nghiệp.

Nguồn trích: Tạp chí Dạy và học ngày nay - 2022 - no.4 - tr.73-74 - ISSN.1859-2694

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

1.Xây dựng mô hình tổ chức chuyển giao công nghệ trong trường đại học tại Việt Nam: nghiên cứu trường hợp mô hình Trung tâm Chuyển giao công nghệ - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội = Building technology transfer organizations in universities: the case study from hanoi University of Science and Technology Nguyễn Thu Hương; Nguyễn Quốc Anh; Lê Minh Thắng; Nguyễn Trung Dũng; Phạm Tuấn Hiệp; Nguyễn Thị Diệp Hồng;

Tóm tắt: Chuyển giao công nghệ từ trường đại học không chỉ trực tiếp mang lại lợi ích kinh tế cho các trường đại học mà còn là một trong những yếu tố tiên quyết góp phần vào chất lượng tăng trưởng kinh tế của các quốc gia. Hoạt động chuyển giao công nghệ thường được thực hiện qua các kênh chuyển giao chính thống thông qua các tổ chức trung gian đảm nhận nhiệm vụ xúc tiến chuyển giao công nghệ nằm trong các trường đại học. Tuy nhiên, trên thế giới, hình thức chuyển giao này được vận hành dưới nhiều cơ chế và mô hình tổ chức khác nhau. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu tổng hợp khung phân tích về việc tổ chức mô hình trung tâm chuyển giao công nghệ trong trường đại học tại Việt Nam, cụ thể gắn với trường hợp mô hình dự kiến của Trung tâm Chuyển giao công nghệ thuộc trường Đại học Bách Khoa Hà Nội (BK TTO). Dựa trên nội dung kết quả ba cuộc phỏng vấn sâu với nhà quản lý cao cấp của trường Đại học Bách khoa Hà Nội và BK TTO, và tài liệu thứ cấp, nghiên cứu chỉ ra rằng BK TTO được kỳ vọng vận hành như một đơn vị cấp hai  tương đương với vị trí của các phòng ban chức năng, khoa, viện, trung tâm  nghiên cứu thuộc nhà trường và được kết hợp với BK Holdings là doanh nghiệp thuộc trường đại học. Trong mô hình đó, nhà trường cung cấp kinh phí, cơ sở vật chất, BK Holdings quản lý thông qua hợp đồng vận hành với nhà trường.

Nguồn trích: Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế - 2022 - no.143 - tr.30-43 - ISSN.2615-9818

1. The 11 sins of seafood: Assessing a decade of food fraud reports in the global supply chain.

Lawrence, C. Elliott, W. Huisman, et al. Compr Rev Food Sci Food Saf, 21(4): 3746-69, 2022.

More information http://doi.org/10.1111/1541-4337.12998.

Abstract: Due to complex, valuable, and often extremely opaque supply chains, seafood is a commodity that has experienced a high prevalence of food fraud throughout the entirety of its logistics network. Fraud detection and prevention require an in-depth understanding of food supply chains and their vulnerabilities and risks so that food business operators, regulators, and other stakeholders can implement practical countermeasures. An analysis of historical criminality within a sector, product, or country is an important component and has not yet been conducted for the seafood sector. This study examines reported seafood fraud incidents from the European Union's Rapid Alert System for Food and Feed, Decernis's Food Fraud Database, HorizonScan, and LexisNexis databases between January 01, 2010 and December 31, 2020. Illegal or unauthorized veterinary residues were found to be the most significant issue of concern, with most reports originating from farmed seafood in Vietnam, China, and India. For internationally traded goods, border inspections revealed a significant frequency of reports with fraudulent or insufficient documentation, indicating that deceptive practices are picked up at import or export but are occurring further down the supply chain. Practices such as species adulteration (excluding veterinary residues), species substitution, fishery substitution, catch method fraud, and illegal, unreported, and unregulated fishing were less prevalent in the databases than evidenced in the scientific literature. The analysis demonstrates significant differences in outcomes depending on source and underlines a requirement for a standardized and rigorous dataset through which food fraud can be scrutinized to ensure enforcement, as well as industry and research resources are directed accurately. Practical Application: Levels of historic food fraud in a product, sector, supply chain node or geographic location provide an indication of historic criminality, the methods used and the location of reported frauds. This study provides an overview of historic levels of seafood fraud that can be used to inform seafood fraud prevention and mitigation activities by the food industry, regulators and other stakeholders.

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

1.Tái định hình chuỗi cung ứng toàn cầu: nhận diện xu hướng, thách thức và giải pháp cho Việt Nam / Nguyễn Bích Lâm;

Tóm tắt: Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, thúc đẩy hội nhập và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia với trọng tâm là mở cửa kinh tế, tạo điều kiện kết hợp hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước, mở rộng không gian phát triển. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là đòi hỏi khách quan, đồng thời cũng là nhu cầu nội tại trong tiến trình phát triển kinh tế của các quốc gia. Trong quá trình vận hành của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, chuỗi cung ứng toàn cầu có vai trò quan trọng, là phương thức không thể thiếu, được ví như tuyến "huyết mạch" của kinh tế thế giới. Khi dịch Covid-19 bùng phát, chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy, gây xáo trộn kinh tế, xã hội của các quốc gia. Nguyên nhân dẫn đến đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu bao gồm các yếu tố đan xen phức tạp như: hiện tượng thời tiết cực đoan; thiên tai; đại dịch; thiếu hụt nguồn cung và nhân lực; nút thắt logistics và hiệu quả hoạt động cảng thấp; chiến tranh thương mại; xung đột địa chính trị…Kinh tế nước ta có độ mở lớn, phụ thuộc nhiều vào nguyên, nhiên vật liệu nhập khẩu từ bên ngoài. Vì vậy, chuỗi cung ứng toàn cầu có vai trò quan trọng đối với kinh tế Việt Nam. Những gián đoạn và thay đổi chuỗi cung toàn cầu đều tác động, gây hệ luỵ không nhỏ đến quá trình phát triển đất nước.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế và Dự báo _ Online - 2022 -  ISSN.1859-4972

TẠP CHÍ IN CÓ TẠI THƯ VIỆN (Bản in được lưu trữ tại Tầng 4)

1. Ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đến độ biến thiên trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Nguyễn Phan Thu hằng; Lê Đình Nghi

Tóm tắt: Báo cáo ảnh hưởng của Covid-19 đến độ biến thiên trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Sử dụng dữ liệu ngày của chỉ số VN-Index từ ngày 01/01/2016 đến 31/12/2021 và mô hình GARCH, kết quả nghiên cứu chỉ ra đại dịch Covid-19 làm gia tăng độ biến thiên trên thị trường chứng khoán Việt Nam, ngoại trừ làn sóng dịch thứ ba. Ngoài ra, bài báo còn chỉ ra độ biến thiên trên thị trường lớn nhất ở làn sóng dịch thứ nhất. Như vậy, các nhà đầu tư cần có các chiến lược đa dạng hóa danh mục đầu tư phù hợp nhằm quản trị rủi ro khi đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh đại dịch. Các cơ quan quản lý thị trường cũng cần có những biện pháp phù hợp nhằm quản trị rủi ro do sự biến động giá cổ phiếu trên thị trường, đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường khi dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á (JABES) - 2022 - no.6 - tr.106- 124 – ISSN.2615-9104

Đánh giá phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam từ góc độ bền vững/Phạm Thị Thu Hà;// Tạp chi Công thương - 2021 - no.15 - tr.115-124

Đối với một quốc gia, năng lượng luôn có vai trò rất quan trọng. Phát triển năng lượng bền vững là một trong những tiêu chí đo lường sự thịnh vượng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, để duy trì được sự phát triển bền vững này lại là một bài toán khó. Bài viết sẽ đi sâu phân tích tình hình phát triển bền vững trong ngành Năng lượng tái tạo ở Việt Nam, đồng thời đề xuất nhóm giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn còn tồn tại.