1. Potentiality of Vietnam green seaweed for bioethanol production/ Vo Thanh Trung, Le Nhu Hau, Nguyen Thanh Hang

Abstract: The Paris Conference on Climate Change in 2015 called on all nations to work together to reduce climate change. The producing biofuels from seaweed biomass is a potential research to contribute to reducing climate change. In Vietnam, green seaweed is a large biomass source, their suitable for ethanol production. This is a solution to create clean fuels, reducing environmental pollution and increase economic benefits for the coastal people. Therefore this review article provides an overall perspective required for the composition of species, the aquaculture, the chemical composition and the process of saccharification and fermentation to produce ethanol from green seaweeds.

Hiện nay, tình trạng xả thải rác bừa bãi xảy ra ở nhiều nơi, từ nông thôn cho đến thành thị. Đây thật sự là bài toán nan giải. Vấn đề này đặt ra có lẽ không mới, bởi từ nhiều năm nay, nó đã được đưa ra mổ xẻ, bàn luận, tìm giải pháp, song trên thực tế, dường như chưa được cải thiện là bao. Vấn đề chính là ý thức và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng.

Sau đây, Thư viện gửi đến các bạn một số nghiên cứu từ các tạp chí nói về vấn đề giáo dục và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho đối tượng học sinh và sinh viên.

Mời các bạn cùng tham khảo!

TÀI LIỆU IN CÓ TẠI THƯ VIỆN (Bản in được lưu tại Tầng 4)

1. Giáo dục trách nhiệm xã hội về bảo vệ tài nguyên môi trường cho sinh viên / Lê Thị Thùy Dung

Tóm tắt: Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên là hoạt động không thể thiếu trong hệ thống giáo dục các trường đại học. Giáo dục trách nhiệm xã hội về bảo vệ tài nguyên môi trường là nền tảng của giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành tài nguyên môi trường. Bởi vì giáo dục trách nhiệm xã hội về bảo vệ tài nguyên môi trường sẽ định hướng giá trị, điều chỉnh hành vi nghề nghiệp, nâng cao ý thức trách nhiệm, hình thành và bồi dưỡng lý tưởng nghề nghiệp cho sinh viên ngành tài nguyên môi trường.

Nguồn trích: Tạp chí Tài nguyên và môi trường / 2019, số 4, tr.47-48

2. Phát triển năng lực bảo vệ môi trường cho học sinh trung học cơ sở qua trải nghiệm / Nguyễn Hồng Thuận

Tóm tắt: Trong bối cảnh môi trường sống trên hành tinh của chúng ta đang bị xâm hại và ô nhiễm nghiêm trọng, giáo dục môi trường được xem là một trong những biện pháp có hiệu quả cao và bền vững, vì nó giúp con người có được nhận thức đúng đắn và thực hiện một cách có ý thức các nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Ngành Giáo dục đã có nhiều cố gắng trong việc tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào trong nhà trường. Ở cấp Trung học cơ sở, kiến thức về môi trường và biến đổi khí hậu cũng đã được đưa vào một số môn học, như: Địa lí, Sinh học; Công nghệ, giáo dục công dân,... và thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Tuy nhiên, kết quả đạt được trên thực tế còn chưa như mong đợi. Điều này thể hiện ở cả phương diện ý thức, hành vi của một bộ phận học sinh. Do cách tổ chức giáo dục theo kiểu truyền thống nâng cao nhận thức qua các buổi sinh hoạt dưới cờ, học các giờ học không mang tính trải nghiệm, không thể đem đến cho học sinh những cảm xúc và năng lực hành động bảo về môi trường? Do vậy, công tác giáo dục môi trường phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực hành để khi gặp phải những vấn đề thực tiễn có thể vận dụng một cách sáng tạo những kiến thức, kỹ năng đã được trang bị để giải quyết nó. Đồng thời, giúp các em có ý thức, biết đánh giá và cảm nhận về tác động đối với môi trường trong mỗi hành động của mình.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam / 2018, số 10, tr.66-70

3. Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học ở Việt Nam / Nguyễn Việt Thanh

Tóm tắt: Việt Nam cần đẩy mạnh giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho mọi người dân, đặc biệt là lứa tuổi học sinh còn đang ngồi trên ghế nàh trường thông qua thực hiện đồng bộ các giải pháp: đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, phương pháp và kỹ băng giảng dạy cho đội ngũ giáo viên; đổi mới nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh lồng ghép với các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh tiểu học trong việc học tập và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam/ 2016, số 11, tr.88-94

4. Tích hợp nhiệm vụ giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua việc dạy học môn hóa học ở trường trung học phổ thông / Nguyễn Thị Bích Hiền, Hoàng Danh Chiến

Tóm tắt: Nghiên cứu sử dụng chương trình hóa học phổ thông để giải thích cho học sinh hiểu các hiện tượng tự nhiên và vấn đề môi trường trong cuộc sống. Qua đó lồng ghép các nội dung liên quan đến môi trường vào bài tập hóa học.

Nguồn trích: Tạp chí Giáo dục / 2016, số 378, tr. 47-49,59

5. Giáo dục ý thức năng lượng và môi trường cho học sinh trong dạy các môn kĩ thuật nghề nghiệp / Nguyễn Văn Tuấn

Tóm tắt: Bài viết phân tích mối quan hệ cơ bản giữa môi trường và năng lượng. Từ đó giúp xác định phương pháp và hàm lượng dạy về lý thuyết kỹ thuật và kỹ thuật thực hành.

Nguồn trích: Tạp chí Giáo dục / 2013, số 309, tr. 27-28, 39

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

- Địa chỉ truy cập: http://sti.vista.gov.vn/ (Chọn CSDL Công bố KH&CN Việt Nam)

6. Sự cần thiết của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho thanh niên ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang / Ngô Thị Lan Anh, Võ Văn Trí

Tóm tắt: Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang được coi là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kĩ thuật của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Quá trình tăng trưởng phát triển Kinh tế - Xã hội của thành phố đã có tác động không nhỏ tới môi trường sinh thái, đặc biệt nạn ô nhiễm môi trường đang diễn ra ngày càng phức tạp với mật độ dày ở tất cả khu vực của thành phố. Bảo vệ môi trường sinh thái hơn bao giờ hết đang là nhiệm vụ cấp bách đối với mọi người dân. Muốn bảo vệ được môi trường, chúng ta phải bắt đầu bằng việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường mà trước hết là đối với thanh niên. Bởi đây là bộ phận quan trọng, đóng góp vào việc bảo vệ môi trường ngày càng trở nên xanh, sạch, đẹp, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại và hướng tới tính nhân văn cao cả.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ (Đại học Thái Nguyên) / 2018, số 3, tr.67-71

7. Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non thông qua hoạt động ngoài trời / Trần Thị Thùy Trang

Tóm tắt: Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là cung cấp cho trẻ những kiến thức sơ đẳng về môi trường, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ nhằm tạo ra thái độ, hành vi đúng đắn của trẻ đối với môi trường xung quanh. Giáo dục bảo vệ môi trường không phải là một môn học mà rõ là một nội dung được tích hợp vào tất cả các hoạt động trong ngày của trẻ theo các chủ đề. Trong đó, hoạt động ngoài trời có ý nghĩa đặc biệt đối với việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ. Bởi thông qua đó, trẻ được tiếp xúc, gần gũi với thiên nhiên, hít thở bầu không khí trong lành nên dễ hình thành lòng yêu thiên nhiên và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ. Trong bài tham luận này, chúng tôi đề cập đến ý nghĩa của hoạt động ngoài trời, cách thức tổ chức hoạt động ngoài trời và đưa ra một số ví dụ cụ thể để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ ở trường mầm non. 

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Tây Nguyên) / 2016, số 18, tr.93-97

8. Phát triển kĩ năng bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo / Nguyễn Hồng Thuận 

Tóm tắt: Giáo dục môi trường là biện pháp có hiệu quả cao và bền vững, giúp mỗi cá nhân có được nhận thức đúng đắn và thực hiện một cách có ý thức các nhiệm vụ bảo vệ môi trường

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Giáo dục / 2017, Số 138, tr.51-55

9. Phát huy tính chủ động của học sinh tiểu học ở Việt Nam trong việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường / Nguyễn Việt Thanh 

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học ở nhà trường còn nhiều hạn chế, bất cập; tác động của nhà trường và gia đình đến nhận thức, thái độ và hành vi bảo vệ môi trường của học sinh; bản thân học sinh tiểu học thiếu ý thức là một trong những nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường...Bài viết cũng nêu ra một số giải pháp phát huy tính chủ động của học sinh trong việc học tập, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường hiện nay ở nước ta.

Nguồn trích: Tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội / 2016, số 7, tr.55-64

10. Một số biện pháp giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh tiểu học / Nguyễn Thị Nga 

Tóm tắt: Bài viết là trích sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên trường tiểu học chia sẻ một số kinh nghiệm lồng ghép giúp nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh.

Nguồn trích: Tạp chí Giáo dục Thủ đô / 2014, số 60, tr.19-20

Hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp là xu thế tất yếu của thời đại. Nó không chỉ tạo ra sản lượng cao mà còn đem lại giá trị kinh tế cao của nông sản làm ra.

Ngành nông nghiệp Việt Nam mặc dù đang phát triển nhưng vẫn còn sản xuất theo hình thức nhỏ lẻ và mang tính truyền thống. Vì vậy, sự hợp tác, liên kết trong ngành càng cần thiết hơn bao giờ hết.

Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, mời quý bạn đọc tham khảo các bài nghiên cứu sau đây.

Nông nghiệp hữu cơ hay còn gọi canh tác hữu cơ là một hệ thống nông nghiệp luân canh có nguồn gốc từ thế kỷ XX ra đời trong sự thay đổi nhanh chóng các hệ thống canh tác trên thế giới. Nông nghiệp hữu cơ liên tục được phát triển bởi tổ chức Nông nghiệp hữu cơ khác nhau cho đến ngày hôm nay. Canh tác này chủ yếu dựa vào phân bón có nguồn gốc hữu cơ như phân từ gia súc gia cầm, phân xanh, phân trộn, bột xương, … tăng độ phì cho đất bằng nhóm cây trồng có tác dụng cải tạo đất. Nhấn mạnh vào các kỹ thuật luân canh giống cây trồng, kiểm soát dịch hại sinh học, sử dụng xen canh cây trồng khắc chế dịch hại hoặc khuyến khích sự tồn tại động vật là thiên địch của sâu bệnh dịch hại.

Tình hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại Việt Nam cũng đang phát triển mạnh mẽ và ngày càng được nhân rộng. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, mời quý bạn đọc tham khảo các bài nghiên cứu sau đây.

 1. Nghiên cứu đóng góp của các thành phần kinh tế đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam/ Phạm Quang Tín

Tóm tắt: Từ sau Đại hội Đảng IV (1986), các chiến lược và chính sách phát triển kinh tế Việt Nam đều ưu tiên tập trung nguồn lực phát triển khu vực kinh tế nhà nước làm động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Bài viết cho thấy mức độ đóng góp của thành phần kinh tế nhà nước vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam chưa xứng tầm với mức độ ưu đãi nguồn lực sản xuất, tình trạng lấn át đầu tư và hiệu quả đầu tư thấp ở thành phần kinh tế nhà nước so với các thành phần kinh tế khác ở Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế/ 2018, Số.10, Tr. 11-22

Hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 9/11/ 2019 với chủ đề “Nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, thực thi, bảo vệ pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật, góp phần xây dựng nhà nước liêm chính, hành động, hiệu quả; xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, Thư viện xin giới thiệu đến quý bạn đọc một số bài viết được trích từ các tạp chí chuyên ngành Luật có tại Thư viện. Các bài viết đề cập đến nội dung của một số bộ Luật như: Luật Giáo dục năm 2019; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học; tuyên truyền phổ biến Luật Phòng chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, phòng chống lãng phí.

Thông qua những nội dung và hình thức tuyên truyền này sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, giáo dục công chức, viên chức, người lao động và người học ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật trong hoạt động thực thi công vụ và đời sống xã hội theo đúng khẩu hiệu “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”.

1. Hoàn thiện kiểm soát chi vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách tại Kho bạc Nhà nước Bến Lức tỉnh Long An/ Huỳnh Thị Vân Ngọc

Tóm tắt: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước là một nguồn tài chính hết sức quan trọng của một quốc gia đối với phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như từng địa phương. Nguồn vốn này không những góp phần quan trọng tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, mà còn có tính định hướng đầu tư, góp phần đắc lực cho việc thực hiện những vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, hàng năm Nhà nước dành một lượng vốn khá lớn chi Ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển bao gồm nguồn vốn ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương. Do nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản có vai trò quan trọng, vì vậy từ lâu quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước đã được chú trọng đặc biệt. Nhiều nội dung quản lý nguồn vốn này đã được hình thành, từ việc ban hành pháp luật, xây dựng và thực hiện cơ chế chính sách quản lý đến việc xây dựng quy trình kiểm soát thanh toán. Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại một số bất cập, bài viết “Hoàn thiện kiểm soát chi vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn Ngân sách tại Kho bạc Nhà nước Bến Lức tỉnh Long An" nhằm giải quyết những bất cập trên.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế - Công nghiệp/ 2018, Số 19, Tr. 93-102

1. Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam/ Nguyễn Thị Phương Liên

Tóm tắt: Thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Những năm gần đây, thì trường TPCP Việt Nam đã đạt được những thành công nhất định nhưng cũng còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển thị trường TPCP Việt Nam giai đoạn 2010-2015 từ các nguồn thông tin, dữ liệu thứ cấp, bài viết chỉ ra một số hạn chế về chủng loại hàng hóa, phương thức giao dịch, cơ sở nhà đầu tư; làm rõ các nguyên nhân chính dẫn đến những hạn chế trong quá trình phát triển của thị trường như hệ thống thông tin thị trường, các điều kiện cơ sở hạ tầng, môi trường pháp lý... Từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp cho sự phát triển an toàn, hiệu quả của thị trường trong thời gian tới.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Thương mại/ 2017, Số 103, Tr. 3-12

 

TẠP CHÍ IN (Bản in được lưu tại quầy Tham khảo - Tầng 4 TV)

1. Du lịch văn hóa: Những chiều tác động và tính bền vững trong phát triển / Nguyễn Thị Phương Châm

Tóm tắt: Nội dung bài viết trình bày về khái niệm du lịch văn hóa, những chiều hướng tác động của du lịch văn hóa đến các giá trị văn hóa. Từ đó, tác giả cho thấy tính bền vững trong quá trình phát triển du lịch văn hóa hiện nay.

Nguồn trích: Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam, 2019, Số 3 (183), tr. 3-11

2. Vai trò của du lịch văn hóa trong chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam / Nguyễn Anh Tuấn, Lê Hoàng Anh

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến đôi nét về du lịch văn hóa, thực trạng phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra định hướng phát triển du lịch văn hóa trong thời gian tới: (1) tiếp tục đầu tư việc khai thác bảo tồn các giá trị tài nguyên du lịch văn hóa; (2) đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững; (3) tăng cường mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch; (4) đầu tư cho việc bảo tồn và tôn tạo các giá trị văn hóa.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 8/2019, Số 422, tr. 5-8

3. Phát huy giá trị của bảo tàng trong du lịch văn hóa / ThS. Phan Thị Thái Hà

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến vai trò của ngành Bảo tàng trong phát triển mô hình du lịch văn hóa. Qua đó, tác giả đưa ra các giải pháp về nguồn nhân lực; đổi mới nội dung trình bày, đa dạng hóa hình thức trưng bày hiện vật tại Bảo tàng; xác định thị trường khách tham quan du lịch; đầu tư xây dựng của hàng lưu niệm; xây dựng biểu tượng độc đáo, đặc trưng cho từng địa điểm; xây dựng kế hoạch tuyên truyền quảng bá để thu hút khách tham quan, …

Nguồn trích: Tạp chí Du lịch, 2019, Số 9, tr. 32-33

4. Những quan điểm tiếp cận mới trong công tác bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị  di sản văn hóa qua con đường du lịch ở Việt Nam hiện nay / Dương Văn Sáu

Tóm tắt: Bài viết trình bày các quan điểm tiếp cận mới về bảo tồn, khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa. Từ đó, tác giả đưa ra các nhiệm vụ trong công tác bảo tồn, khai thác, phát huy các giá trị của di sản văn hóa qua con đường du lịch: biến di sản thành tài sản, biến văn hóa thành hàng hóa, biến tài nguyên thành tài chính, biến môi trường thành thị trường, biến nguồn lực thành động lực, biến giá trị thành giá cả.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 9/2019, Số 423, tr. 49-52

5. Phát triển du lịch Việt Nam theo hướng bền vững / Tô Đức Hạnh

Tóm tắt: Bài viết phân tích, đánh giá những thành tựu, những hạn chế và nguyên nhân của du lịch Việt Nam qua các khía cạnh; tốc độ phát triển du lịch; cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch; các điểm đến các sản phẩm du lịch và năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một só giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển du lịch Việt Nam theo hướng bền vững.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, 2019, Số 7, tr. 74-82

TẠP CHÍ ĐIỆN TỬ

Địa chỉ truy cập: http://lhtv.vista.vn/ (Chọn STD - Tài liệu KH&CN Việt Nam)
Lưu ý: Bạn đọc vui lòng truy cập theo hệ thống mạng nội bộ của Trường Đại học An Giang để đọc và download toàn văn tài liệu.

1. Du lịch văn hóa ở Việt Nam - một cách nhìn toàn cảnh / Trần Thúy Anh, Phan Quang Anh

Tóm tắt: Du lịch văn hóa là hoạt động du lịch khám phá và trải nghiệm bản sắc văn hóa với tham gia của cộng động theo tôn chỉ bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Các nước đang phát triển được thế giới công nhận là điểm đến trong thời đại mới của loại hình du lịch này và Việt Nam, với tư cách là một nền kinh tế đang đà đi lên hội nhập quốc tế cũng không phải là ngoại lệ.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa học, 2014, Số 1, tr. 49-54

2. Hướng tới quy hoạch du lịch văn hóa hiệu quả ở vùng ven biển / Geoffrey Wall

Tóm tắt: Khu vực duyên hải là môi trường phức tạp về mặt hình thái, văn hóa và hành chính. Về mặt hình thái lãnh thổ, chúng bao gồm cả phần đất liền, biển và làn ranh giới khúc khuỷu ở giữa. Chúng có độ rộng thay đổi tùy theo khu vực và thẩm quyền, cũng như độ cao và chiều sâu. Hơn nữa, khu vực ven biển chịu ảnh hưởng rất lớn từ các quá trình diễn ra sâu trong đất liền mà cụ thể ở đây là những nguồn nước có khối lượng và chất lượng khác nhau từ những con sông tạo ra và những ảnh hưởng này được phân bố bởi các dòng chảy.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa học, 2014, Số 1, tr. 30-36

3. Nghiên cứu giải pháp phát triển các sản phẩm du lịch gắn với đời sống văn hóa cộng đồng tỉnh An Giang thời kỳ hội nhập / Nguyễn Phú Thắng

Tóm tắt: An Giang là nơi sinh sống của nhiều thành phần dân tộc, trong đó có người Kinh, Hoa, Chăm, Khơ - me. Các cộng đồng dân tộc với những nét văn hóa phong phú là yếu tố thuận lợi cho việc phát triển các sản phẩm du lịch dựa vào cộng đồng. Trong bối cảnh hoạt động du lịch của tỉnh còn đơn điệu về hình thức, việc phát triển các sản phẩm du lịch gắn liền với đời sống văn hóa cộng đồng là một hướng đi quan trọng nhằm thu hút khách du lịch, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc. Trên cơ sở phân tích các lợi thế, thách thức trong phát triển sản phẩm du lịch gắn với cộng đồng tỉnh An Giang thời kì hội nhập, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản để phát triển du lịch cộng đồng ở An Giang.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Giáo dục (Đại học Sư phạm - Đại học Huế), 2015, Số 2, tr. 96-104

4. Du lịch văn hóa trong xu thế toàn cầu hóa / Vũ Thị Lương, Nguyễn Thị Thảo

Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa, bài viết đánh giá những tác động của toàn cầu hóa tới văn hóa và phát triển du lịch văn hóa. Đồng thời, nhận định việc khai thác các giá trị văn hóa trong du lịch là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành du lịch Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hóa.

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 2016, Số 8,  tr. 39-41

5. Phát triển sản phẩm du lịch dựa trên đặc thù văn hóa truyền thống, địa lí của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thực trạng và giải pháp / Nguyễn Thị Hằng

Tóm tắt: Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, hoạt động du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng, ngày càng chiếm vị trí quan trọng. Mỗi quốc gia, vùng, miền đều coi trọng sự phát triển du lịch văn hóa, nhằm góp phần quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong qua trình hội nhập. Đồng bằng Sông Cửu Long là một trong bảy vùng du lịch của cả nước có nguồn tài nguyên và văn hóa đa dạng, với các sản phẩm du lịch phong phú. Tuy nhiên, trong hoạt động du lịch, các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, thiếu điểm nhấn. Vì vậy, cần tìm ra giải pháp để phát triển mạnh mẽ du lịch Đồng bằng Sông Cửu Long, trong đó, việc tạo ra các sản phẩm du lịch theo hướng du lịch văn hóa, du lịch sinh thái phù hợp với đặc thù Đồng bằng Sông Cửu Long là cấp thiết.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học chính trị, 2017, Số 7, tr. 79-83

Tổng hợp: Nguyễn Thị Cẩm Thiêu

1. Hiện trạng, định hướng và giải pháp liên kết phát triển, hợp tác trong các lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch vùng kinh tế trọng điểm phía Nam/ Hoàng Công Dân

Tóm tắt: Văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch là những lĩnh vực quan trọng trong đời sống kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với nhau. Những mô hình và phương thức liên kết là một mặt không thể thiếu trong định hướng phát triển ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, giai đoạn đến năm 2020 và định hướng năm 2030.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Đào tạo và huấn luyện Thể thao/ 2016, Số ĐB, Tr.73-77