Bottom-up approach for flood risk management in developing countries: a case study in the Gianh River watershed of Vietnam.

Huu Duy Nguyen, Thi Ha thanh Nguyen, Quoc Huy Nguyen, et al., 2022. Free full text https://assets.researchsquare.com/files/rs-1520947/v1/cda4f234-7f8c-48af-9fa6-635d80caeb9b.pdf?c=1650052928.

Abstract: Flood effects are very serious, especially in developing countries where they are at high risk due to urbanization and socio-economic development. Reliable information is crucial to support decisionmakers or planners to develop appropriate strategies to reduce flood risk. This article aims to develop a theoretical framework for assessing flood risk and adaptive capacity based on a bottom-up approach, in the Gianh River watershed of Vietnam, considered a very important task for flood risk management. Flood risk was computed by combining hazard, exposure, and vulnerability using hydrodynamic modeling and the Analytic Hierarchy Process method. The adaptive capacity of the population was assessed via interviews with 298 inhabitants. The results show that flood risk is high in areas with high population and construction density. Both the ability to access resources and communities' perceptions are important factors in improving the capacity to adapt. This study can provide an important theoretical framework complementing the existing literature and supporting studies related to flood risk management in the context of climate change and urbanization in other regions. Besides, the study fills in a gap in the knowledge of negative flood effects, providing important inputs for decision-makers to develop appropriate strategies for reducing damage in Vietnam and other countries in the world. From a methodological start point, this study underlines the importance of using hydraulic models and socioeconomic surveys in flood risk management.

  1. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển thị trường dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải rắn sinh hoạt và đề xuất một số bài học kinh nghiệm phù hợp với điều kiện Việt Nam/ Nguyễn Duy Thái

Tóm tắt: Bài báo tập trung nghiên cứu một số kinh nghiệm quốc tế (tại Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đan Mạch) về phát triển thị trường dịch vụ rác thải sinh hoạt. Nội dung nghiên cứu được tiếp cận dưới góc độ chuyên ngành kinh doanh thương mại gồm: 1) Quản lý nhà nước phát triển thị trường dịch vụ rác thải sinh hoạt; 2) Thu phí xử lý rác thải sinh hoạt theo khối lượng phát sinh; 3) Phân loại rác thải sinh hoạt. Bài báo đề xuất một số bài học kinh nghiệm phát triển thị trường dịch vụ rác thải sinh hoạt phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

Nguồn trích: Tạp chí Công thương/ 2021, số 17, tr108-116

Chemical composition, radioactive and stable isotopes in several selected thermal waters in North Vietnam

Nguyen Dinh Chau, Katarzyna Wątor, Piotr Rusiniak, et al. Ecological Indicators, 138: 108856, 2022.

Free full text: https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1470160X22003272

Abstract: This work presents the chemical composition and concentration of radioactive and stable isotopes in water samples collected from nine well-known therapeutic centers located in north Vietnam. Excluding the Thanh Thuy – Phu Tho waters, which are hosted in Pleistocene sandstone with marble and gravel, the rest of studied waters are hosted in Paleozoic limestone formations. The thermal waters are extracted from 10 to 400 m below the surface, but the Keng Ga Ninh Binh intake is of an artesian nature. The temperature measured in the outlet waters ranges from 39 °C to 61 °C. The δ18O and δ2H (δD) vary from −9.13 to −5.09 ‰ and −63.9 to −34.1 ‰ respectively. All the thermal waters examined originate from infiltration water. This is also confirmed by the values of selected calculated hydrochemical indices. The hydrochemical types of the waters are HCO3-Ca-Mg, HCO3-Na, Cl-Na, SO4-HCO3-Ca-Mg, SO4-Ca-Mg and SO4-Ca. The mineralization of the concerned waters varies from 244 mgL−1 to more than 11,500 mgL−1. The concentrations of uranium and radium in the waters are in the broad interval from about 4 mBqL−1 to 680 mBqL−1 for 238U and from below 5 mBqL−1 (limit of detection - LOD) to above 3400 mBqL−1 for 226Ra. There is no 228Ra in most of the waters (below 10 mBqL−1- LOD), excluding two waters in the Thanh Thuy-Phu Tho district, where 228Ra is present with 18 and 27 mBqL−1. In all the waters studied, there is a very low concentration of polonium (210Po) which varies from 0.5 mBqL−1 to 8.2 mBqL−1. High mineralization and high radium concentration should be associated with a long residence time in the given geological formation. The linear relationship between the depth of the host water formations and the water temperature suggests that the study waters are mostly heated from the geogradient of heat energy. But the water from the My Lam district is probably heated by intrusive magmatic fluid. From a radiological point of view, the waters used for therapeutic and relaxation purposes are safe, however, there would be some problems if they were to be used for drinking purposes.

1.Lịch sử lực lượng vũ trang tỉnh An Giang (1975-2010)/ Ngô Quang Láng ... [và những người khác. - Hà Nội: Chính trị Quốc gia - Sự thật , 2014.

Tóm tắt: Quyển sách ghi lại quá trình hình thành, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang tỉnh An Giang giai đoạn 1975-2010, đúc kết những kinh nghiệm và bài học quý báu cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới phía Tây của Tổ quốc.

Số phân loại: 355.009597/L302
Số ĐKCB: MD070434

1.Luật doanh nghiệp năm 2020 bước tiến quan trọng được nhiều doanh nghiệp kỳ vọng/ Ngô Thị Hồi Anh

Tóm tắt: Bài báo nêu và phân tích những điểm mới quan trọng trong Luật doanh nghiệp năm 2020 vừa được quốc hội thông qua. Từ đó giúp các doanh nghiệp và nhà đầu tư có thể tiếp cận được các thay đổi của pháp luật về doanh nghiệp, nhận thấy tầm quan trọng của những thay đổi này trong việc tạo ra sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương/ 2021, Số 584, Tr.109-110

1.Thích ứng của người Khmer với sự thay đổi điều kiện canh tác nông nghiệp mới ở huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang = Adaptation of Khmer people to the new changing agricultural farming conditions in Tinh Bien district, An Giang province/ Phạm Huỳnh Thanh Vân, Thái Huỳnh Phương Lan, Đường Huyền Trang

Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích các nguồn dữ liệu về sự thay đổi nguồn nước được thu thập, kết hợp với phương pháp phỏng vấn sâu và quan sát thực địa, bài viết phân tích sự thích ứng của người Khmer (Khơ-me) tại huyện Tịnh Biên, Tỉnh An Giang với sự thay đổi điều kiện canh tác nông nghiệp mới trước tác động của biến đổi khí hậu. Đồng thời, nhóm tác giả cũng đưa ra các giải pháp cho thay mối liên hệ giữa cơ hội và thách thức ở từng cấp độ thích ứng của các cộng đồng người Khmer trước sự suy giảm nguồn nước, trong đó chú trọng đến hai nhóm giải pháp công trình và phi công trình, nhằm mang lại hiệu quả lâu dài để phát triển sinh kế bền vững.

Nguồn trích: Tạp chí Dân tộc học/ 2021, Số 6 , Tr.63 - 76

A. TÀI LIỆU ĐIỆN TỬ

1.Giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ Núi Sam trong phát triển du lịch tỉnh An Giang = Cultural values in worshipping the goddess of Sam mountain to tourism development in An Giang province/ Hồ Thị Đào, Nguyễn Quốc Bình

Tóm tắt: An Giang, tuy là vùng đất mới được khai phá hơn 300 năm nhưng lại là vùng đất hội tụ của nhiều tín ngưỡng dân gian độc đáo, trong đó có tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ. Miếu thờ Bà Chúa Xứ Núi Sam gắn liền với lễ hội Vía Bà được nhiều người biết đến. Nơi đây, từ lâu đã trở thành địa chỉ hành hương quen thuộc của đông đảo người dân Nam Bộ và cũng là điểm đến tham quan nổi tiếng của du khách trong và ngoài nước. Hiện nay, tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ Núi Sam đã và đang được khai thác như một sản phẩm du lịch độc đáo. Trên cơ sở tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ Núi Sam, bài viết còn đề cập đến vấn đề khai thác tín ngưỡng này vào phát triển du lịch ở An Giang.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Đồng Tháp)/ 2021, Số 2, Tr.37-46

1.Kinh tế Việt Nam năm 2021 và triển vọng năm 2022/ PGS, TS. Bùi Quang Tuấn - TS. Hà Huy Ngọc

Tóm tắt: Năm 2021, đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp trên toàn cầu với những biến thể mới, cản trở đà phục hồi của kinh tế thế giới. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh, tăng trưởng kinh tế năm 2021 chỉ ở mức 2,58%, thấp nhất trong vòng 30 năm qua. Do đó, để trở lại quỹ đạo tăng trưởng, Việt Nam cần thực hiện Chương trình phục hồi kinh tế bền vững vừa đủ liều lượng, vừa trúng mục tiêu và với thể chế thực thi hiệu quả.

Nguồn trích: Tạp chí Cộng sản 

1. Nghiên cứu ứng dụng phần mềm mã nguồn mở DSpace-CRIS trong xây dựng hệ thống quản lý thông tin nghiên cứu = Applying DSpace-CRIS open source software in building research information management system/ Phan Ngọc Đông, Lê Vũ Đình Phi, Nguyễn Xuân Phương, Nguyễn Khánh Trang

Tóm tắt: Hệ thống quản lý thông tin nghiên cứu là dịch vụ mới đang nổi lên trong các cơ quan nghiên cứu. RIMS hỗ trợ các trường đại học trong việc quản lý thông tin giảng viên và nhà nghiên cứu của họ thông qua một giao diện duy nhất. Nó cũng cho phép nhà nghiên cứu lưu trữ và chia sẻ nghiên cứu của họ với công chúng và cho phép sử dụng lại nghiên cứu đó. Việc triển khai RIMS trong các trường đại học đảm bảo việc quản lý thông tin nghiên cứu phù hợp để sử dụng trong tương lai. Nghiên cứu này góp phần hướng tới sự hiểu biết về RIMS và hỗ trợ việc lựa chọn ứng dụng phần mềm thích hợp để triển khai hệ thống RIMS trong các trường đại học.

Nguồn trích: Tạp chí Thông tin và Tư liệu/ 2022, Số 01, Tr.37 - 45

1. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sản xuất rau an toàn của nông hộ tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng = Analysis of factors influencing farmers' decision on safe vegetable production in Don Duong district, Lam Dong province/ Nguyễn Văn Cường

Tóm tắt: Nghiên cứu khảo sát các hộ sản xuất rau tại huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng nhằm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sản xuất rau theo hướng an toàn của nông hộ trên địa bàn, đồng thời xác định mức sẵn lòng chấp nhận sản xuất rau an toàn của các hộ dân chưa sản xuất rau an toàn tại đây. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố tác động đến quyết định sản xuất rau theo hướng an toàn của nông hộ bao gồm: (1) Thu nhập từ sản xuất rau mang lại cho hộ; (2) Trình độ học vấn của người quyết định sản xuất trong hộ; (5) Quy mô sản xuất của hộ; (4) Mức độ hiểu biết về sản xuất rau theo tiêu chuẩn an toàn; (6) Sự tác động của các tổ chức xã hội; (10) Hộ có áp dụng công nghệ trong sản xuất hay không; (9) Đánh giá của hộ về việc áp dụng theo tiêu chuẩn an toàn và xu hướng giá rau an toàn so với rau thường trong tương lai.

Nguồn trích: Tạp chí Công thương/ 2018, Số 11, Tr.261-267