1. Hai hiện tượng văn xuôi nổi bật của văn học Trung Quốc cuối thế kỉ XX = Two outstanding literary phenomena of the Chinese literature at the end of the 20th century/ Nguyễn Thị Mai Chanh

Tóm tắt: Sự xuất hiện của một số hiện tượng văn xuôi Trung Quốc cuối thế kỉ XX như là đòn chót trong cuộc phá hủy trật tự văn học thiết lập từ nhiều thập niên kể từ sau ngày thành lập nước Trung Quốc mới (1949). Sự xuất hiện này đồng nghĩa với việc xác lập nên hình thái ý thức văn học mới, đưa sáng tác và tiếp nhận đến gần hơn với bản chất văn chương. Ngày nay, nói đến các hiện tượng văn xuôi Trung Quốc cuối thế kỉ XX là nói đến sự nghiệp đã qua của một lớp tác gia giờ đây đầu đã bạc. Nhìn từ góc độ nào đó, công việc ấy có chút tương tự như công việc của khảo cổ học, cũng có thể nói giống với việc vén màn thời gian nhìn lại một khúc quanh của văn học sử. Những thứ mà đương thời các hiện tượng văn học chủ trương lật đổ để xây dựng cái mới, thì giờ đây có thứ cũng lại đã đổ rồi, hay cũng chẳng còn gì là mới nữa. Đó ắt hẳn là “định mệnh” của bất kì công quả “tiên phong” đổi mới nào. Song thực ra, nếu không có cái định mệnh như thế thì đã không có lịch sử văn học đích thực. Việc đặt vấn đề nghiên cứu một cách khách quan những đóng góp của các hiện tượng văn xuôi nổi bật cuối thế kỉ XX đối với sự phát triển của văn học đương đại Trung Quốc là điều hết sức cần thiết.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Sư phạm Hà Nội)/ 2021, Số 1, Tr.3-9

1. Thiết kế sản phẩm robot cẳng tay phục vụ thực hành kỹ thuật tin học y sinh = Design a robotics forearm product for bioinformatic laboratories/ Trần Đức Hoàng, Lê Hoàng Hiệp

Tóm tắt: Bài báo này tập trung nghiên cứu và thiết kế một sản phẩm Robot cẳng tay sử dụng các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực tin học y sinh với mục đích là hỗ trợ người sử dụng điều khiển các Robot trong các môi trường khó khăn, khắc nghiệt. Thiết kế sản phẩm của nghiên cứu này kế thừa và phát huy được các ưu điểm của các sản phẩm đã được thương mại hóa trên thị trường như truyền tin qua các khớp thần kinh sử dụng tín hiệu điện cơ, sử dụng công nghệ truyền thông hiện đại. Ưu điểm của sản phẩm là giá thành rẻ, dễ sử dụng và áp dụng cho nhiều đối tượng trên thực tế. Hơn nữa, sản phẩm có thể được sử dụng làm công cụ thực hành cho sinh viên các ngành tin học y sinh tại các trường đại học, trung tâm nghiên cứu nơi mà đang còn thiếu thốn trang thiết bị liên quan đến lĩnh vực này có thêm công cụ nghiên cứu, thực nghiệm chuyên sâu, nâng cao kiến thức và khả năng áp dụng lý thuyết vào thực tế được hiệu quả hơn. Kết quả nghiên cứu, thiết kế và triển khai cho thấy sản phẩm thực tế có độ chắc chắn cao, dễ lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng và bảo trì.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên/ 2021, Số 11, Tr.226-233

1. Nghiên cứu và ứng dụng màng bao sinh học (Biofilm) để hạn chế nấm bệnh và tăng khả năng bảo quản bưởi da xanh (Citrus maxima) Bến Tre sau thu hoạch/ Thạch Thị Ngọc Yến, Nguyên Tố Nguyên, Phan Ngô Quốc Bảo

Tóm tắt: Nghiên cứu và ứng dụng màng bao sinh học (Biofilm) để hạn chế nấm bệnh và tăng khả năng bảo quản bưởi da xanh Bến Tre sau thu hoạch được thực hiện với mục tiêu chính là tìm ra giải pháp hợp lý để hạn chế nấm bệnh và tăng khả năng tồn trữ sau thu hoạch trên bưởi da xanh. Kết quả nghiên cứu dựa trên hình thái, cơ quan sinh bào tử và hình thức sinh sản, cũng như dựa trên kỹ thuật sinh học phân tử (giải trình tự và tra cứu trên ngân hàng gen NCBI quốc tế) đã định loại được 2 dòng nấm gây bệnh là Phomopsis sp. và Phỵtopthora sp. với độ tương đồng 97,74% và 97,77%. Trong điều kiện in-vitro cho thấy Lactobacillus plantarum có khả năng ức chế gần như hoàn toàn đối với 2 dòng vi nấm gây bệnh sau thu hoạch trên bưởi da xanh. Sử dụng màng bao biofilm với vi khuẩn Lactobacillus plantarum kết hợp với alginate 0,03% có tác dụng hạn chế nấm bệnh trên bưởi sau 40 ngày bảo quản và nhờ đặc tính sinh acid lactic cũng như một số hợp chất hữu cơ của vi khuẩn làm giảm pH vỏ quả, góp phần kiểm soát sự xâm nhiễm nấm bệnh gây hại, giảm hao hụt khối lượng trái, duy trì chất lượng trái với độ Brix, vitamin c, lycopene được duy trì sau thu hoạch trên bưởi da xanh. Đánh giá cảm quan về màu sắc vỏ trái vẫn giữ được màu đẹp cũng như chất lượng thịt quả ngon và được ưa chuộng hơn so với nghiệm thức không xử lý màng bao biofilm.

Nguồn trích: Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn/ 2021, Số 06, Tr.58 - 67

1. Giải pháp an ninh mạng và bảo mật thông tin tại các trường Đại học Việt Nam trong kỷ nguyên thông tin = Network security solutions and information security at Vietnam universities in the digital age/ Bui Van Nam, Nguyen Phu Quang

Tóm tắt: Với sự phát triển của công nghệ thông tin trong các trường đại học tại Việt Nam hiện nay, mạng lưới thông tin tại khuôn viên trường ngày càng có vai trò quan trọng hơn, và dần trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng cho việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học, quản lý nhân sự, tài chính và hợp tác quốc tế tại các trường Đại học. Tuy nhiên, còn tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro bị tấn công không gian mạng. Vì vậy việc đảm bảo an ninh mạng và bảo mật thông tin cơ sở dữ liệu đã trở thành vấn đề quan trọng nhất trong việc xây dựng và phát triển đại học. Trong bài viết này, tác giả trình bày các vấn đề tồn tại trong vấn đề an ninh và bảo mật thông tin tại các trường Đại học Việt Nam và đề xuất các các biện pháp cho vấn đề an ninh mạng và thông tin trong kỷ nguyên thông tin hiện nay.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học (Đại học Thủ Đô)/ 2021, Số 53, Tr.5 - 10

1. Trí tuệ nhân tạo trong giáo dục: Cơ hội và thách thức đến tương lai của việc dạy và học ở trường đại học/Đinh Thị Mỹ Hạnh, Trần Văn Hưng.

Tóm tắt: Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) đang bùng nổ và có khả năng làm thay đổi mọi mặt trong đời sống nhân loại. Trong giáo dục, AI đang tạo ra những phương pháp dạy và học mới đang được thử nghiệm trong những điều kiện và ở nhiều quốc gia với trình độ phát triển khác nhau và đạt những mức độ thành công khác nhau. Bài báo này tập trung phân tích cơ hội, thách thức và những tác động trong tương lai của AI đối với việc dạy và học ở các trường đại học thế giới nói chung. (1) Bài báo phân tích những thay đổi tích cực mà AI đem lại cho giáo dục. (2) Những thách thức, khó khăn khi ứng dụng AI vào giáo dục đại học cũng như đề xuất một số giải pháp chủ yếu để khắc phục những khó khăn đó.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ (Đại học Đà Nẵng) - 2021 - no.2 - tr.38-42. ISSN.1859-1531.

1. Đặc điểm của văn tế Hán Nôm Bình Định = Characteristics of Han Nom Binh Dinh literature/ Võ Minh Hải, Nguyễn Thị Bé

Tóm tắt: Từ thực tế điền dã, sưu tầm văn tế Hán Nôm trên địa bàn tỉnh Bình Định, nhóm tác giả bước đầu nghiên cứu tổng quan về một thể loại khá đặc biệt trong văn học Hán Nôm Bình Định. Thông qua nội dung đã tìm hiểu được, bài viết hướng đến việc khẳng định những đặc điểm nổi bật của văn tế Hán Nôm Bình Định. Với tư cách là một thể loại văn học gắn liền với chức năng nghi lễ, văn tế Hán Nôm Bình Định đã mang lại những giá trị văn hóa mới, góp phần vào tiến trình phát triển của văn học Bình Định.

Nguồn trích: Tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội/ 2020, Số 9, Tr.45-52

 

1. Vai trò của báo chí - truyền thông trong việc tạo lập và định hướng dư luận xã hội ở Việt Nam hiện nay/ Đỗ Hải Hoàn

Tóm tắt: Truyền thông và dư luận xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Truyền thông phản ánh và lan truyền dư luận xã hội, ngược lại dư luận xã hội vừa là đối tượng, vừa là đối tác của truyền thông. Bài viết này phân tích vai trò của báo chí - truyền thông đối với dư luận xã hội và thông qua các trường hợp thực tiễn hiện nay để làm rõ mối quan hệ đó.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Duy Tân/ 2021, Số 48, Tr.155-163

 

1. Một số giải pháp nâng cao kỹ năng lập trình cho sinh viên công nghệ thông tin, trường Đại học An Giang/ Thiều Thanh Quang Phú, Nguyễn Minh Vi

Tóm tắt: Cách mạng công nghiệp 4.0 bùng nổ trên toàn cầu và phát triển dựa trên nền tảng kết hợp nhiều công nghệ, trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò chủ chốt. Các sinh viên ngành Công nghệ thông tin hôm nay sẽ là nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao trong những năm tới, là lực lượng đi đầu trong việc tiếp cận, ứng dụng, và sáng tạo công nghệ. Bài viết phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển kỹ năng lập trình, một kỹ năng nghề nghiệp quan trọng đối với sinh viên ngành Công nghệ thông tin, Trường Đại học An Giang - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao các kỹ năng cần thiết, đặc biệt là kỹ năng lập trình cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng mục tiêu đào tạo của Trường Đại học An Giang - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

Nguồn trích: Tạp chí Giáo dục/ 2020, Số 473, Tr.40-44

1.Phương thức biểu thị ý nghĩa của từ chỉ tên gọi thực vật trong tiếng Ê Đê (So sánh với tiếng Việt) = The methods of meaning presentment of words referring to plant names in Ede language (in comparison to Vietnamese)/ Võ Tuấn Vũ

Tóm tắt: Các sự vật, hiện tượng tồn tại xung quanh con người phải có tên gọi. Tên gọi giúp con người phân biệt sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác; đồng thời thể hiện khả năng định hướng thế giới xung quanh đang tồn tại trong cuộc sống của chúng ta. Tham luận này tập trung phân tích một số đặc điểm biểu thị nghĩa trong cách gọi tên thực vật của người Ê Đê so sánh với cách gọi trong tiếng Việt.

Nguồn trích: Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư/ 2020, Số 04, Tr.31 - 36

1. Thực trạng, giải pháp bảo vệ môi trường tại các cụm công nghiệp/ Hoàng Văn Vy

Tóm tắt: Theo Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, cụm công nghiệp (CCN) được gọi chung là khu công nghiệp do có cùng đặc điểm là những khu vực sản xuất tập trung của nhiều cơ sở hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Tuy nhiên, do việc hình thành các CCN không theo quy hoạch, chủ yếu là khu vực để các địa phương di dời những cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường, hoặc cấp phép hoạt động cho loại hình doanh nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm tại địa phương. Vì vậy, các CCN được thành lập hầu hết có quy mô nhỏ (từ vài ha đến vài chục ha), chỉ nằm trong phạm vi quản lý của địa phương; không phải là những khu sản xuất tập trung (khu công nghiệp) được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, nên việc quy hoạch bảo vệ môi trường (BVMT) và chủ thể quản lý ở mỗi địa phương đối với các CCN cũng rất khác nhau. Quy mô sản xuất của các dự án đầu tư trong CCN đa số là nhỏ và vừa, hoặc chỉ tương đương quy mô hộ gia đình; cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật giao thông và BVMT tại các CCN còn hạn chế. Mặc dù vậy, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của các CCN trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm của nhiều địa phương trong thời gian qua. Tuy nhiên, đằng sau đó là những nỗi lo về công tác BVMT tại CCN.

Nguồn trích: Tạp chí Môi trường/ 2021, Số 3, Tr.15-16